Quay lại chuyên mục

LẨN TRÁNH THÔNG QUA THAY ĐỔI XUẤT XỨ HÀNG HÓA: NHẬN DIỆN VÀ CẢNH BÁO ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Ngày đăng:

Lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua thay đổi xuất xứ hàng hóa là hành vi ngày càng phổ biến trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu. Tính đến ngày 15/7/2025, Việt Nam là đối tượng của 40 vụ điều tra lẩn tránh từ 6 quốc gia, trong đó riêng Hoa Kỳ chiếm 23 vụ (57,5%), tiếp theo là Liên minh châu Âu (EU) và Thổ Nhĩ Kỳ mỗi nước 7 vụ, còn lại là Brazil, Canada và Nam Phi. Các mặt hàng bị điều tra chủ yếu tập trung vào những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn và tốc độ tăng trưởng đột biến như nhôm, thép, gỗ, pin năng lượng mặt trời, lốp ô tô – với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2024 ước khoảng 20 tỷ USD, chiếm 5% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia.

Lẩn tránh biện pháp PVTM là hành vi mà doanh nghiệp thực hiện nhằm né tránh hiệu lực của lệnh áp thuế CBPG hoặc CTC đã được ban hành, thông qua việc thay đổi một số đặc tính của hàng hóa hoặc tuyến đường thương mại mà không làm thay đổi thực chất bản chất kinh tế của giao dịch. Đây là hành vi bị xem là gian lận thương mại, gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước của nước nhập khẩu và làm suy giảm hiệu lực của hệ thống PVTM quốc tế.

Theo Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 (Luật số 05/2017/QH14) và Nghị định số 86/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp PVTM, hành vi lẩn tránh bao gồm: (i) thay đổi không đáng kể hàng hóa thuộc đối tượng bị áp biện pháp PVTM nhằm tránh áp dụng biện pháp đó; (ii) chuyển tải hàng hóa qua nước thứ ba; và (iii) thay đổi xuất xứ hàng hóa.

Điểm đặc thù của lẩn tránh thông qua thay đổi xuất xứ là hành vi này không đơn thuần là gian lận về giấy tờ, mà thường gắn liền với việc dịch chuyển một phần hoặc toàn bộ công đoạn sản xuất, lắp ráp sang nước thứ ba. Trong trường hợp của Việt Nam, đây thường là bước cuối của chuỗi sản xuất, ví dụ như lắp ráp đơn giản từ các bộ phận có xuất xứ từ nước bị áp thuế. Điều mấu chốt là mức độ gia công tại nước thứ ba có "đáng kể" hay không theo tiêu chí pháp lý của từng quốc gia điều tra.

Quy định của Hoa Kỳ – thị trường có nhiều vụ điều tra nhất

Hoa Kỳ áp dụng Điều 781 Đạo luật Thuế quan năm 1930 (Tariff Act of 1930) để điều tra hành vi lẩn tránh. Theo đó, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) có thể mở rộng phạm vi áp dụng của lệnh CBPG/CTC sang hàng hóa từ nước thứ ba nếu xác định rằng hàng hóa đó: (a) sử dụng bộ phận hoặc nguyên liệu từ nước bị áp thuế gốc; và (b) công đoạn gia công tại nước thứ ba là nhỏ và không đáng kể.

Tiêu chí "nhỏ và không đáng kể" được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố: mức độ đầu tư vào cơ sở sản xuất tại nước thứ ba; tỷ lệ giá trị nguyên liệu đầu vào từ nước bị áp thuế trong tổng giá trị sản phẩm; mức độ thay đổi về tính chất và bản chất của hàng hóa qua công đoạn gia công; và khả năng khai thác lực lượng lao động, nghiên cứu, phát triển tại nước thứ ba.

Điểm đáng chú ý là kể từ tháng 9/2021, DOC đã điều chỉnh quy trình điều tra lẩn tránh, cho phép áp dụng kết luận lẩn tránh trên phạm vi toàn quốc, thay vì chỉ xét từng doanh nghiệp riêng lẻ. Điều này có nghĩa là nếu một số doanh nghiệp Việt Nam bị kết luận có hành vi lẩn tránh, tất cả hàng hóa tương tự xuất xứ Việt Nam đều có thể bị xem là lẩn tránh, trừ khi doanh nghiệp tự chứng minh ngược lại. Cơ chế này đảo ngược gánh nặng chứng minh, đặt trên vai doanh nghiệp áp lực tuân thủ rất lớn.

Quy định của Liên minh châu Âu

EU điều chỉnh lẩn tránh theo Điều 13 Quy định (EU) 2016/1036 về chống bán phá giá và Quy định (EU) 2016/1037 về chống trợ cấp. EU xác định hành vi lẩn tránh khi: (i) mô hình thương mại thay đổi sau khi biện pháp được ban hành; (ii) sự thay đổi đó không có đủ cơ sở hoặc lý do kinh tế chính đáng ngoài việc trốn tránh biện pháp; và (iii) có bằng chứng về thiệt hại gây ra cho hiệu lực của biện pháp, được đo bằng giá nhập khẩu và/hoặc số lượng.

Tiêu chí cốt lõi của EU là xem xét liệu giá trị gia tăng tại nước thứ ba có đạt ít nhất 25% chi phí sản xuất hay không. Nếu giá trị gia tăng dưới ngưỡng đó, hàng hóa sẽ bị xem là lẩn tránh và EU có thể mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp sang nước thứ ba. EU cũng có cơ chế điều tra nhanh và có thể áp dụng biện pháp tạm thời trong thời gian điều tra, đặt doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trước rủi ro gián đoạn thương mại ngay từ giai đoạn sơ bộ.

Thực trạng điều tra lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam

Các vụ điều tra lẩn tránh PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam gia tăng theo từng giai đoạn với tốc độ ngày càng nhanh. Giai đoạn 1998–2020, Việt Nam chỉ phải chịu 22 vụ điều tra lẩn tránh, trung bình chưa đến 1 vụ mỗi năm. Tuy nhiên, chỉ trong khoảng 5 năm gần đây (2021–2025), con số này đã là 18 vụ, trung bình 3,6 vụ mỗi năm. Đây là giai đoạn chủ nghĩa bảo hộ gia tăng trên toàn cầu, thúc đẩy xu hướng các nước áp dụng biện pháp PVTM nhiều hơn và đồng thời siết chặt kiểm soát để ngăn chặn hành vi lẩn tránh.

Chỉ tính riêng từ tháng 9/2021 đến tháng 7/2025, Hoa Kỳ đã khởi xướng 14 trong tổng số 40 vụ điều tra lẩn tránh nhắm vào hàng hóa Việt Nam (chiếm 35% tổng số), chủ yếu tập trung vào các sản phẩm sử dụng nguyên liệu có xuất xứ từ Trung Quốc. Trong quý I/2026, Hoa Kỳ tiếp tục ban hành kết luận điều tra đối với nhiều sản phẩm, bao gồm thép cốt bê tông, pin và tấm pin năng lượng mặt trời, nguyên liệu sản xuất sợi spandex (PTMEG), gỗ dán và gỗ trang trí.

Bảng 1: Số liệu điều tra lẩn tránh biện pháp PVTM đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam theo quốc gia (đến ngày 15/7/2025)

STT

Quốc gia điều tra

Số vụ

Tỷ trọng

Mặt hàng tiêu biểu

1

Hoa Kỳ

23

57,5%

Nhôm, thép, gỗ, pin mặt trời, lốp xe, tủ gỗ, thép không gỉ, tôm, xe đạp điện...

2

Liên minh châu Âu (EU)

7

17,5%

Sản phẩm thép, giấy, xe đạp điện...

3

Thổ Nhĩ Kỳ

7

17,5%

Sắt thép các loại, nhôm, sản phẩm hóa chất...

4

Brazil

1

2,5%

Sản phẩm sắt thép

5

Canada

1

2,5%

Sơ mi rơ moóc (kết luận không lẩn tránh)

6

Nam Phi

1

2,5%

Lốp ô tô

Tổng cộng

40

100%

KN XK liên quan: ~20 tỷ USD năm 2024 (5% tổng KNXK)

Nguồn: Bộ Công Thương

Các vụ điều tra điển hình và bài học rút ra

Thứ nhất, vụ pin năng lượng mặt trời (2022–2025): Tháng 3/2022, DOC khởi xướng điều tra chống lẩn tránh đối với tế bào quang điện và mô-đun quang điện nhập khẩu từ Việt Nam (cùng Campuchia, Malaysia, Thái Lan). Tháng 8/2023, DOC kết luận: sản phẩm từ Việt Nam bị coi là lẩn tránh nếu sử dụng tấm wafer sản xuất tại Trung Quốc, hoặc sử dụng hơn 2 trong số các thành phần chính từ Trung Quốc. Đến tháng 4/2025, DOC ban hành quyết định điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp trực tiếp với pin mặt trời từ Việt Nam, áp thuế tổng hợp (AD+CVD) lên tới hơn 813% đối với mức áp dụng chung – thực tế đóng cửa khả năng xuất khẩu sang Hoa Kỳ của phần lớn doanh nghiệp không được điều tra riêng lẻ.

Thứ hai, vụ nhôm định hình và sản phẩm nhôm: Hoa Kỳ điều tra lẩn tránh CBPG và CTC đối với nhiều chủng loại nhôm và sản phẩm nhôm xuất xứ Việt Nam, với cáo buộc các doanh nghiệp Trung Quốc thành lập cơ sở gia công đơn giản tại Việt Nam để lấy xuất xứ Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ. Cục PVTM đã đưa nhôm và sản phẩm nhôm vào danh sách cảnh báo sớm ngay từ khi kim ngạch xuất khẩu tăng bất thường.

Thứ ba, vụ tủ bếp và đồ nội thất bằng gỗ: Từ tháng 4/2020, DOC khởi xướng điều tra phạm vi sản phẩm và lẩn tránh đối với tủ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam. Tháng 9/2023, DOC ban hành kết luận điều chỉnh, liệt kê các trường hợp tủ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam có các bộ phận sản xuất tại Trung Quốc thuộc phạm vi của lệnh áp thuế gốc với Trung Quốc.

Thứ tư, vụ sơ mi rơ moóc tại Canada: Đây là lần đầu tiên Canada tiến hành điều tra chống lẩn tránh với Việt Nam (năm 2024). Kết luận điều tra khẳng định sơ mi rơ moóc nhập khẩu từ Việt Nam không lẩn tránh biện pháp PVTM – tiền lệ tích cực, cho thấy doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể chứng minh sự tuân thủ nếu có hồ sơ minh bạch và quy trình sản xuất thực chất.

Nhận diện các phương thức lẩn tránh thông qua thay đổi xuất xứ hàng hóa

Chuyển tải và trung chuyển bất hợp pháp

Đây là phương thức đơn giản nhất: hàng hóa từ nước bị áp thuế PVTM được vận chuyển qua lãnh thổ Việt Nam, thay đổi chứng từ (vận đơn, giấy chứng nhận xuất xứ) mà không có bất kỳ công đoạn sản xuất hay chế biến thực chất nào, sau đó tái xuất sang nước nhập khẩu. Hành vi này vi phạm trực tiếp các quy định về xuất xứ hàng hóa theo Nghị định số 31/2018/NĐ-CP.

Dấu hiệu nhận biết điển hình bao gồm: thời gian hàng hóa lưu tại Việt Nam quá ngắn không phù hợp với một chu trình sản xuất; không có hóa đơn mua bán nguyên liệu đầu vào tại Việt Nam; kim ngạch xuất khẩu tăng đột biến trong thời gian ngắn không tương xứng với năng lực sản xuất thực tế; địa chỉ nhà sản xuất khai báo trên C/O không trùng với cơ sở sản xuất thực tế; và doanh nghiệp không có kinh nghiệm sản xuất trong ngành hàng xuất khẩu.

Lắp ráp giản đơn từ nguyên liệu xuất xứ nước bị áp thuế

Phổ biến hơn và khó phát hiện hơn là phương thức trong đó doanh nghiệp thực hiện một số công đoạn gia công, lắp ráp đơn giản tại Việt Nam từ các linh kiện, bộ phận nhập khẩu từ nước bị áp thuế. Toàn bộ giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam rất nhỏ, không đủ để cấu thành "xuất xứ thực chất" theo quy định pháp luật, nhưng doanh nghiệp vẫn khai báo xuất xứ Việt Nam.

Ví dụ điển hình được DOC xác nhận trong vụ pin mặt trời: một số doanh nghiệp nhập khẩu wafer và cell từ Trung Quốc (chiếm tỷ lệ lớn trong giá trị sản phẩm), chỉ thực hiện công đoạn lắp ráp module cuối cùng tại Việt Nam rồi xuất sang Hoa Kỳ. Tương tự, trong ngành nhôm, một số doanh nghiệp nhập khẩu thanh nhôm đùn ép từ Trung Quốc, chỉ cắt và xử lý bề mặt tại Việt Nam rồi xuất sang các thị trường đang áp thuế với nhôm Trung Quốc.

Thay đổi mã số hàng hóa không thực chất

Doanh nghiệp thực hiện một số biến đổi không đáng kể đối với hàng hóa (đóng gói lại, pha trộn với lượng nhỏ nguyên liệu khác, hoặc thêm phụ kiện nhỏ) đủ để hàng hóa được phân loại sang mã HS khác, không nằm trong phạm vi của lệnh áp thuế. Hành vi này đặc biệt phổ biến trong các ngành thép, hóa chất và sản phẩm nhựa.

Cơ quan điều tra đánh giá tính thực chất của sự thay đổi mã HS dựa trên: liệu sự thay đổi có tạo ra sự khác biệt đáng kể về công dụng và đặc tính của sản phẩm không; tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam so với tổng giá trị; và liệu sản phẩm mới có cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm trong lệnh áp thuế gốc không. Nếu sự thay đổi chỉ mang tính hình thức, hành vi vẫn bị xác định là lẩn tránh.

Dịch chuyển đầu tư hình thức để tạo xuất xứ mới

Đây là phương thức phức tạp nhất về mặt pháp lý: doanh nghiệp từ nước bị áp thuế thành lập cơ sở sản xuất tại Việt Nam, nhưng thực chất chỉ thực hiện các công đoạn sản xuất đơn giản, tất cả nguyên liệu đầu vào quan trọng vẫn nhập từ nước gốc. Về hình thức, đây là hoạt động đầu tư nước ngoài hợp pháp, nhưng mục đích thực sự là để tạo ra xuất xứ Việt Nam nhằm né tránh thuế PVTM.

Cơ quan điều tra Hoa Kỳ sử dụng nhiều tiêu chí để phân biệt "đầu tư thực chất" với "đầu tư hình thức" trong các vụ điều tra liên quan đến Việt Nam, bao gồm: tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu từ nước gốc; mức độ đầu tư vào nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam; tỷ lệ lao động kỹ thuật cao trong lực lượng nhân sự; và khả năng tự chủ của cơ sở sản xuất trong chuỗi cung ứng.

Bảng 2: Tổng hợp các phương thức lẩn tránh và tiêu chí nhận diện

STT

Phương thức lẩn tránh

Đặc điểm chính

Dấu hiệu nhận diện

Mức độ rủi ro

1

Chuyển tải bất hợp pháp

Không có gia công thực sự; chỉ thay chứng từ

Thời gian lưu kho ngắn; thiếu hóa đơn NVL; C/O không khớp cơ sở SX

Rất cao – vi phạm hình sự

2

Lắp ráp giản đơn

Gia công tối thiểu; NVL chính từ nước bị áp thuế chiếm tỷ lệ lớn

Giá trị gia tăng tại VN thấp; thiếu máy móc chuyên dụng

Cao – truy thu thuế, phạt

3

Thay đổi mã HS không thực chất

Biến đổi nhỏ để đổi mã HS; sản phẩm thực chất không thay đổi

Chức năng giống hàng bị áp thuế; tỷ lệ VGT thấp

Cao – mở rộng phạm vi lệnh thuế

4

Dịch chuyển đầu tư hình thức

FDI thành lập tại VN nhưng NVL, quản lý vẫn từ nước gốc

NVL từ nước gốc chiếm tỷ lệ lớn; thiếu R&D; lao động kỹ thuật cao từ nước gốc

Trung bình đến cao – phụ thuộc từng vụ

Nguồn: Tổng hợp từ Cục PVTM, Bộ Công Thương; DOC (Hoa Kỳ); Ủy ban châu Âu;

Hành vi lẩn tránh khi bị phát hiện dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng. Trước hết là về tài chính: doanh nghiệp bị áp mức thuế CBPG/CTC rất cao, tính từ thời điểm hàng hóa thông quan, thậm chí hồi tố lên đến 90 ngày trước khi điều tra được khởi xướng. Trường hợp pin mặt trời từ Việt Nam, mức thuế tổng hợp AD+CVD theo kết luận tháng 4/2025 của DOC đối với doanh nghiệp không được điều tra riêng lẻ lên tới hơn 813%, thực tế đóng cửa hoàn toàn khả năng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.

Ngoài thuế, doanh nghiệp còn có thể bị: thu giữ hàng hóa đang trên đường vận chuyển; bị đưa vào danh sách giám sát đặc biệt của cơ quan hải quan nước nhập khẩu; bị từ chối cấp phép nhập khẩu trong tương lai; và phải gánh chịu chi phí pháp lý tốn kém để ứng phó với quá trình điều tra kéo dài.

Điều đáng lo ngại là hành vi lẩn tránh của một số doanh nghiệp có thể gây thiệt hại lan rộng đến toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Khi DOC áp dụng kết luận phạm vi toàn quốc, tất cả doanh nghiệp sản xuất mặt hàng đó tại Việt Nam đều bị giả định là lẩn tránh, dù có quy trình sản xuất hoàn toàn tuân thủ. Gánh nặng chứng minh sự trong sạch chuyển sang phía doanh nghiệp – một quá trình tốn kém về thời gian và nguồn lực.

Hậu quả kinh tế – xã hội cũng đáng kể: theo phản ánh của các doanh nghiệp sản xuất pin mặt trời tại Bắc Giang, nhiều đơn vị đã phải giảm trên 50% sản lượng trong giai đoạn 2021–2024. Uy tín thương mại của Việt Nam trên trường quốc tế cũng bị ảnh hưởng, khiến các đối tác nhập khẩu có tâm lý e ngại khi ký hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trong một số ngành hàng.

Trong phạm vi pháp luật Việt Nam, hành vi gian lận xuất xứ có thể bị xử lý theo nhiều văn bản khác nhau. Về hành chính, Nghị định số 128/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với mức phạt tiền nhiều lần số tiền thuế gian lận. Về hình sự, tùy theo mức độ và hậu quả, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 213 Bộ luật Hình sự năm 2015 (tội trốn thuế) hoặc Điều 359 (tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức).

Thực hiện Đề án xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại (Đề án 316), Cục PVTM đã và đang theo dõi biến động xuất khẩu của gần 40 mặt hàng có nguy cơ cao và định kỳ phát hành danh sách cảnh báo.[19] Danh sách cảnh báo hiện hành bao gồm các sản phẩm: thép chống ăn mòn, thép cán nóng, cáp thép dự ứng lực, ống thép hàn, nhôm và sản phẩm nhôm, gỗ dán, gỗ trang trí, xe đạp và xe đạp điện, pin năng lượng mặt trời, lốp ô tô, tủ gỗ, mặt bích bằng thép không gỉ.

Tiêu chí cảnh báo được xây dựng dựa trên: (i) tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bất thường vào thị trường đang áp biện pháp PVTM đối với nước thứ ba; (ii) tỷ lệ nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ nước bị áp thuế cao; và (iii) dịch chuyển dòng đầu tư từ nước bị áp thuế vào Việt Nam trong giai đoạn ngắn. Khi ba yếu tố này xuất hiện đồng thời, nguy cơ bị điều tra lẩn tránh là rất cao.

Khuyến nghị về quản lý hồ sơ xuất xứ

Đây là nhóm biện pháp quan trọng nhất mà doanh nghiệp phải thực hiện ngay từ trước khi có nguy cơ bị điều tra. Hồ sơ chứng minh xuất xứ thực chất cần bao gồm:

(i) Sổ sách kế toán và nhật ký sản xuất ghi đầy đủ nguyên liệu đầu vào theo từng lô hàng, từng mã sản phẩm, có thể xác minh qua hóa đơn, chứng từ mua bán với nhà cung cấp;

(ii) Hồ sơ máy móc thiết bị và năng lực sản xuất thực tế, bao gồm biên bản kiểm định, hóa đơn mua sắm thiết bị, danh sách lao động có tay nghề phù hợp;

(iii) Hồ sơ công thức sản xuất chi tiết, quy trình công nghệ thể hiện rõ từng công đoạn và tỷ lệ đóng góp giá trị của từng nguyên liệu;

(iv) Hồ sơ xuất xứ nguyên liệu đầu vào, bao gồm giấy chứng nhận xuất xứ của nguyên liệu, hóa đơn thương mại và chứng từ vận chuyển từ nhà cung cấp;

(v) Hồ sơ kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập bên ngoài xác nhận tỷ lệ giá trị gia tăng tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu xuất xứ.

Hồ sơ cần được lưu trữ đầy đủ và phải có khả năng cung cấp ngay cho cơ quan điều tra nước ngoài khi được yêu cầu. Doanh nghiệp nên định kỳ tổ chức kiểm tra nội bộ, đánh giá hồ sơ xuất xứ một cách nghiêm túc trước khi có nguy cơ bị điều tra.

Khuyến nghị về tăng cường tỷ lệ nội địa hóa và đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu

Về tăng tỷ lệ nội địa hóa: Phấn đấu đạt tỷ lệ giá trị gia tăng tại Việt Nam tối thiểu 35–40% (đối với thị trường EU) và đáp ứng tiêu chí chuyển đổi thực chất theo các quy tắc xuất xứ của Hoa Kỳ. Lưu ý rằng mức ngưỡng này chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là quá trình gia công phải tạo ra sự thay đổi thực sự về đặc tính, công dụng của hàng hóa.

Về đa dạng hóa nguồn cung: Doanh nghiệp cần lập bản đồ chuỗi cung ứng chi tiết, xác định các nguyên liệu có xuất xứ từ nước bị áp thuế và tìm kiếm nguồn thay thế từ Việt Nam, ASEAN hoặc các quốc gia không bị áp thuế. Việc này đòi hỏi đầu tư thời gian và nguồn lực nhưng là biện pháp bền vững nhất để bảo vệ khả năng xuất khẩu dài hạn.

Về phối hợp với hiệp hội ngành hàng: Các hiệp hội ngành hàng đóng vai trò quan trọng trong việc chia sẻ thông tin, đào tạo tuân thủ xuất xứ và đại diện tiếng nói tập thể khi làm việc với cơ quan điều tra nước ngoài. Doanh nghiệp cần chủ động tham gia và đóng góp cho hoạt động của hiệp hội.

Khuyến nghị khi tiếp nhận thông báo điều tra

Bước 1 – Liên hệ ngay với Cục PVTM

Cục PVTM là đầu mối hỗ trợ doanh nghiệp trong các vụ điều tra PVTM nước ngoài, có thể cung cấp thông tin về quy trình điều tra, yêu cầu trả lời câu hỏi, và kết nối với đội ngũ tư vấn pháp lý thương mại quốc tế có kinh nghiệm. Thời hạn trả lời bảng câu hỏi thường rất ngắn, do đó cần hành động ngay lập tức.

Bước 2 – Thuê tư vấn pháp lý chuyên nghiệp

Các vụ điều tra thương mại quốc tế đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về pháp luật của nước điều tra. Việc tự mình trả lời bảng câu hỏi mà không có hỗ trợ pháp lý chuyên nghiệp thường dẫn đến kết quả bất lợi.

Bước 3 – Chuẩn bị hồ sơ chứng minh sản xuất thực chất

Thu thập đầy đủ toàn bộ chứng từ sản xuất, mua bán nguyên liệu, hóa đơn, hợp đồng, sổ sách kế toán liên quan đến giai đoạn điều tra. Tổ chức kiểm toán nội bộ để xác định tỷ lệ giá trị gia tăng tại Việt Nam.

Bước 4 – Hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra

Không hợp tác hoặc hợp tác không đầy đủ sẽ dẫn đến việc bị áp dụng "sự kiện bất lợi được giả định" (Adverse Facts Available – AFA), thường là mức thuế cao nhất trong điều tra – hậu quả còn nghiêm trọng hơn nhiều so với kết quả điều tra chính thức.

Kiến nghị hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước

Tăng cường kiểm soát cấp phát Giấy chứng nhận xuất xứ

Thực hiện Quyết định số 1103/QĐ-BCT ngày 21/4/2025 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc thu hồi quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, từ ngày 05/5/2025, toàn bộ thẩm quyền cấp C/O cho hàng hóa xuất khẩu được tập trung về Bộ Công Thương thông qua hệ thống eCOSys. Đây là bước đi quan trọng trong việc tăng cường kiểm soát, giảm nguy cơ cấp C/O không đúng quy định.

Để phát huy hiệu quả thực sự của biện pháp này, cần bổ sung cơ chế hậu kiểm: xây dựng hệ thống thông tin tích hợp giữa cơ quan cấp C/O, cơ quan hải quan và cơ quan quản lý sản xuất để có thể xác minh ngẫu nhiên tính xác thực của C/O đã cấp; và thiết lập bộ phận chuyên trách phát hiện, điều tra các trường hợp C/O có dấu hiệu gian lận.

Tăng cường cơ chế phối hợp liên bộ và hợp tác quốc tế

Chống lẩn tránh thông qua thay đổi xuất xứ là vấn đề liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa: Bộ Công Thương (Cục PVTM, Cục Xuất nhập khẩu); Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính); Bộ Kế hoạch và Đầu tư; và Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389). Mô hình phối hợp hiệu quả cần được thể chế hóa bằng quy chế phối hợp cụ thể, có phân công trách nhiệm rõ ràng và cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên.

Về hợp tác quốc tế, Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác với các đối tác thương mại lớn trong lĩnh vực xác minh xuất xứ hàng hóa, đặc biệt là đẩy nhanh tiến độ ký kết và thực thi Hiệp định hỗ trợ hành chính lẫn nhau về hải quan với Hoa Kỳ và EU để tạo cơ sở pháp lý cho việc chia sẻ thông tin kịp thời.

Xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng số hóa quản lý xuất xứ

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát và phòng ngừa hành vi lẩn tránh, cần đẩy nhanh việc xây dựng nền tảng dữ liệu tích hợp về xuất xứ hàng hóa, bao gồm: (i) kết nối dữ liệu C/O với dữ liệu hải quan nhập khẩu nguyên liệu để tự động phát hiện bất thường; (ii) xây dựng mô hình rủi ro dựa trên phân tích dữ liệu để cảnh báo sớm các lô hàng có nguy cơ cao; và (iii) tích hợp với Cổng thông tin ASEAN Single Window để tăng cường minh bạch thông tin thương mại trong khu vực.

Yếu tố quyết định hiệu quả vẫn là chất lượng xác minh hồ sơ sản xuất, không chỉ dừng lại ở kiểm tra chứng từ mà cần bổ sung cơ chế kiểm tra thực tế tại cơ sở sản xuất đối với các mặt hàng thuộc nhóm cảnh báo cao.

Lẩn tránh biện pháp PVTM thông qua thay đổi xuất xứ hàng hóa là thách thức ngày càng nghiêm trọng đối với Việt Nam. Với 40 vụ điều tra từ 6 quốc gia tính đến tháng 7/2025, và các mặt hàng bị điều tra có tổng kim ngạch khoảng 20 tỷ USD, hành vi lẩn tránh đang đặt ra rủi ro pháp lý và kinh tế thực sự cho nền kinh tế.

Phân tích trong bài viết cho thấy có bốn phương thức lẩn tránh chính: chuyển tải bất hợp pháp, lắp ráp giản đơn từ nguyên liệu nước bị áp thuế, thay đổi mã HS không thực chất và dịch chuyển đầu tư hình thức. Mỗi phương thức có đặc điểm nhận biết riêng, mức độ rủi ro pháp lý khác nhau và yêu cầu biện pháp phòng ngừa tương ứng. Hệ lụy của việc bị kết luận lẩn tránh không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp bị điều tra mà còn lan rộng sang toàn bộ ngành thông qua cơ chế kết luận phạm vi toàn quốc.

Để bảo vệ lợi ích thương mại quốc gia và uy tín của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, cần sự vào cuộc đồng bộ từ nhiều phía: Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường cơ chế kiểm soát và hợp tác quốc tế; doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống quản lý xuất xứ minh bạch, tăng tỷ lệ nội địa hóa và đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu; hiệp hội ngành hàng cần phát huy vai trò cầu nối thông tin và đại diện tập thể trong các vụ kiện thương mại quốc tế. Chỉ có sự phối hợp chặt chẽ và nhất quán từ tất cả các chủ thể này mới đảm bảo tính bền vững của tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam trong dài hạn.

Ngày đăng: