Quay lại chuyên mục

THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG ĐIỀU TRA ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHỐNG LẨN TRÁNH BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

Ngày đăng:

Giai đoạn 2024-2026 ghi nhận một bước ngoặt trong chính sách thương mại toàn cầu: số lượng vụ điều tra phòng vệ thương mại (PVTM) mới khởi xướng đạt mức cao nhất trong hơn một thập kỷ, với trung bình 32,3 vụ/tháng trên toàn thế giới trong nửa cuối năm 2025, chỉ thấp hơn không đáng kể so với mức đỉnh 37,3 vụ/tháng của năm 2024 (WTO, Report on G20 Trade Measures, 11/2025). Trong dòng chảy đó, một xu hướng đáng chú ý hơn cả sự gia tăng về số lượng là sự dịch chuyển trọng tâm từ các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp truyền thống sang các vụ việc chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại — công cụ nhắm vào chính hành vi né tránh các mức thuế đã được áp dụng, thay vì hành vi bán phá giá hay trợ cấp ban đầu.

Việt Nam đang ở vị trí đặc biệt nhạy cảm trong xu hướng này. Với vai trò là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất khu vực và nằm liền kề chuỗi cung ứng dư thừa công suất của Trung Quốc, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam ngày càng trở thành đối tượng bị nghi ngờ là điểm trung chuyển cho hành vi lẩn tránh thuế của nước thứ ba. Tính đến hết tháng 5/2026, Việt Nam đã đối mặt với 321 vụ việc điều tra PVTM nước ngoài, trong đó nhóm vụ việc chống lẩn tránh — dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với chống bán phá giá và tự vệ — lại có tốc độ gia tăng nhanh nhất, đặc biệt từ thị trường Hoa Kỳ.

Quy định pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới

Các biện pháp phòng vệ thương mại là công cụ hợp pháp mà các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được phép áp dụng nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh không công bằng từ hàng hóa nhập khẩu. Ba loại biện pháp phổ biến gồm: chống bán phá giá (CBPG), chống trợ cấp (CTC) và biện pháp tự vệ.

Việc áp dụng các biện pháp này phải tuân thủ các quy định trong các hiệp định liên quan của WTO như Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) 1994, Hiệp định Chống bán phá giá, Hiệp định Trợ cấp và Biện pháp đối kháng, và Hiệp định Tự vệ. Các biện pháp phòng vệ thương mại có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như áp thuế, yêu cầu ký quỹ, hạn chế định lượng…

Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp đã tìm cách né tránh các biện pháp này thông qua các hành vi như chuyển tải hàng hóa qua nước thứ ba, thay đổi xuất xứ, hoặc điều chỉnh chi tiết sản phẩm để không bị nhận diện là đối tượng bị áp thuế. Đây chính là hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, tức là cố tình trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi các biện pháp đang có hiệu lực đối với hàng hóa nhập khẩu.

Trước tình trạng này, một số quốc gia – đặc biệt là Hoa Kỳ – đã tăng cường điều tra chống lẩn tránh nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại. Các hình thức lẩn tránh phổ biến bao gồm: lắp ráp hoặc hoàn thiện hàng hóa tại nước thứ ba hoặc tại nước nhập khẩu với giá trị gia tăng không đáng kể để thay đổi xuất xứ; hoặc thay đổi các chi tiết nhỏ trên sản phẩm hay phiên bản mới mà không có chuyển đổi đáng kể để né tránh phạm vi áp dụng của biện pháp phòng vệ thương mại.

Khác với các biện pháp CBPG, CTC và tự vệ vốn được quy định rõ trong các hiệp định của WTO, việc điều tra chống lẩn tránh hiện chưa có quy định cụ thể trong hệ thống pháp lý của WTO mà chủ yếu phụ thuộc vào nội luật của từng quốc gia.

Trong quá trình đàm phán thành lập WTO, Hoa Kỳ và EU từng đề xuất đưa quy định chống lẩn tránh vào Hiệp định CBPG (ADA), nhưng do không đạt được sự đồng thuận về ngôn ngữ pháp lý, các quy định này đã không được đưa vào văn bản cuối cùng. Thay vào đó, chỉ có Quyết định cấp Bộ trưởng về chống lẩn tránh được thông qua, được các nước, trong đó có Hoa Kỳ xem như cơ sở pháp lý để thực thi các quy định nội địa về chống lẩn tránh.

Quy định pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam

Theo quy định tại Điều 72.1 của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, “Lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại là hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp phòng vệ thương mại đang có hiệu lực đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp này khi nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam”.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 86/2025/NĐ-CP ngày 11/4/2025, thay thế Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018, nhằm cụ thể hóa Luật Quản lý ngoại thương. Trong đó, Mục 1 thuộc Chương IV (Điều 81–86) đã quy định các hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm:

(1) Hàng hoá lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam.

(2) Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua sản xuất, lắp ráp tại nước thứ ba.

(3) Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua thay đổi không đáng kể hàng hóa bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

(4) Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bằng việc chuyển tải thông qua một hoặc nhiều nước khác nhau.

(5) Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua thay đổi nhà sản xuất để hưởng lợi từ chênh lệch mức độ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Việt Nam tiếp cận vấn đề chống lẩn tránh theo hai hướng bổ trợ nhau. Về phía chủ động điều tra, Điều 72.1 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 xác định lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại là hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp phòng vệ thương mại đang có hiệu lực khi nhập khẩu vào Việt Nam. Nghị định 86/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 1/7/2025) đã cụ thể hóa quy định này tại Mục 1 Chương IV (Điều 81-86), xác định 5 loại hành vi lẩn tránh (tổng hợp tại Bảng dưới đây), mỗi loại đều gắn với các điều kiện định lượng cụ thể — ví dụ, để bị coi là lẩn tránh qua sản xuất/lắp ráp tại Việt Nam, hàng hóa phải sử dụng nguyên liệu từ nước bị áp thuế chiếm ít nhất 60% tổng giá trị nguyên vật liệu, đồng thời giá trị gia tăng tại Việt Nam phải dưới 25% tổng chi phí sản xuất. Thời hạn điều tra chống lẩn tránh không quá 9 tháng kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định điều tra, có thể gia hạn thêm tối đa 3 tháng trong trường hợp đặc biệt (Bộ tài liệu bồi dưỡng kiến thức PVTM, Cục Phòng vệ thương mại, 2026).

Bảng hành vi lẩn tránh biện pháp PVTM theo Nghị định 86/2025/NĐ-CP

Loại hành vi

Điều kiện cấu thành cốt lõi

(1) Sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam

Nguyên liệu từ nước bị áp thuế chiếm ≥ 60% tổng giá trị; giá trị gia tăng tại Việt Nam < 25% tổng chi phí sản xuất; hoạt động sản xuất tăng đáng kể sau khi có quyết định điều tra/áp dụng biện pháp ban đầu.

(2) Sản xuất, lắp ráp tại nước thứ ba

Nguyên liệu xuất xứ từ nước bị áp thuế ban đầu chiếm ≥ 60% tổng giá trị; khối lượng nhập khẩu vào Việt Nam tăng đáng kể sau quyết định điều tra ban đầu; hàng hóa không có xuất xứ hợp lệ từ nước thứ ba theo quy tắc xuất xứ không ưu đãi.

(3) Thay đổi không đáng kể hàng hóa

Đánh giá dựa trên 10 yếu tố: đặc tính vật lý/hóa học, mục đích sử dụng cuối cùng, khả năng thay thế, quy trình và chi phí sản xuất, xu hướng tiêu dùng, phương thức tiếp thị, kênh phân phối, mô hình thương mại, thay đổi giá.

(4) Chuyển tải qua một hoặc nhiều nước

Hàng hóa do nhà sản xuất đang bị áp thuế sản xuất; nhập khẩu vào Việt Nam từ nước không bị áp thuế ban đầu; có điểm xuất phát từ nước đang bị áp thuế và đã qua chuyển tải trung gian.

(5) Thay đổi nhà sản xuất để hưởng chênh lệch mức thuế

Hàng hóa nhập khẩu từ nhà sản xuất không thuộc diện áp thuế ban đầu hoặc chịu mức thuế thấp hơn, trong khi thực chất được mua lại từ nhà sản xuất đang bị áp thuế mức cao hơn.

Nguồn: Nghị định 86/2025/NĐ-CP, Mục 1 Chương IV (Điều 81-86)

Về phía tự quản lý rủi ro bị coi là điểm lẩn tránh cho hàng hóa nước khác, Việt Nam thực hiện Quyết định số 824/QĐ-TTg ngày 4/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ” (Đề án 824), được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 119/NQ-CP ngày 31/12/2019. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và Bộ Công Thương đã triển khai đồng bộ các biện pháp xác minh năng lực sản xuất thực tế của doanh nghiệp xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), phân luồng kiểm tra theo mức độ rủi ro, và gần đây nhất là Chỉ thị số 09/CT-BCT của Bộ Công Thương về tăng cường giám sát xuất xứ hàng hóa (thesaigontimes.vn, 2025).

Thực trạng điều tra chống lẩn tránh đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam

Theo ngành hàng: Dữ liệu về cơ cấu nhóm hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại cho thấy PVTM tập trung chủ yếu vào một số nhóm ngành xuất khẩu chủ lực, phản ánh rõ mô hình tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam dựa nhiều vào công nghiệp chế biến, sản phẩm tiêu chuẩn hóa và cạnh tranh về giá.

Biểu đồ 1: Cơ cấu nhóm hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị áp dụng biện pháp phòng về thương mại

Biểu đồ số liệu từ tài liệu gốc

Nguồn: WTO

Nhóm kim loại cơ bản và các sản phẩm từ kim loại (HS XV) chiếm 32% tổng số nhóm hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị áp dụng biện pháp PVTM, là nhóm có tỷ trọng cao nhất.

Đây là kết quả phù hợp với thực tiễn xuất khẩu của Việt Nam, bởi:

- Thép và các sản phẩm kim loại là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, có sản lượng lớn và tăng trưởng nhanh;

- Ngành kim loại có công suất cao, chi phí cố định lớn, dễ rơi vào tình trạng cạnh tranh gay gắt về giá;

- Sản phẩm mang tính tiêu chuẩn hóa cao, dễ so sánh giá giữa các thị trường, dẫn tới nguy cơ bị cáo buộc bán phá giá hoặc bị áp dụng biện pháp tự vệ.

Thực tiễn cho thấy phần lớn các vụ việc PVTM đối với nhóm này là chống bán phá giá và tự vệ, tập trung tại các thị trường như Hoa Kỳ, EU, Ấn Độ và ASEAN.

Nhóm sản phẩm của ngành hóa chất và các ngành liên quan (HS VI) chiếm 12% cơ cấu hàng hóa bị áp dụng PVTM.

Nguyên nhân chính gồm:

- Ngành hóa chất có quy trình sản xuất phức tạp, phụ thuộc nhiều vào năng lượng và nguyên liệu đầu vào;

- Giá thành sản phẩm dễ chịu ảnh hưởng từ chính sách hỗ trợ của Nhà nước, khiến các nước nhập khẩu quan tâm nhiều đến yếu tố trợ cấp;

Nhiều sản phẩm hóa chất mang tính trung gian, được sử dụng làm đầu vào cho các ngành khác, nên tác động cạnh tranh lan tỏa lớn.

Do đó, nhóm HS VI thường bị điều tra kết hợp chống bán phá giá và chống trợ cấp.

Nhóm dệt may và các sản phẩm dệt (HS XI) chiếm 8% tổng số nhóm hàng bị áp dụng PVTM. Mặc dù dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, tỷ trọng bị áp dụng PVTM ở mức không quá cao, cho thấy:

Nhiều nước nhập khẩu lựa chọn các biện pháp phi thuế quan khác (quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, lao động, môi trường) thay vì PVTM truyền thống;

Tuy nhiên, với đặc điểm sử dụng nhiều lao động và cạnh tranh về giá, dệt may vẫn là ngành tiềm ẩn rủi ro PVTM, đặc biệt tại các thị trường lớn.

Nhóm nhựa, cao su và các sản phẩm từ nhựa, cao su (HS VII) chiếm 7%. Đây là nhóm ngành có mức độ tiêu chuẩn hóa cao; đóng vai trò đầu vào trung gian cho nhiều ngành sản xuất khác và dễ chịu tác động lan tỏa từ các biện pháp PVTM áp dụng đối với hóa chất cơ bản và dầu khí. Các vụ việc PVTM đối với nhóm này chủ yếu tập trung vào chống bán phá giá, với phạm vi ảnh hưởng rộng trong chuỗi cung ứng.

Nhóm máy móc, thiết bị và sản phẩm điện (HS XVI) chiếm 7%, cho thấy:

PVTM đã mở rộng sang các nhóm ngành có hàm lượng kỹ thuật cao hơn, không chỉ giới hạn ở công nghiệp cơ bản;

Tuy nhiên, tỷ trọng vẫn ở mức tương đối thấp do việc chứng minh bán phá giá và thiệt hại trong các ngành công nghệ cao phức tạp hơn, cạnh tranh không hoàn toàn dựa trên giá.

Nhóm “Other” chiếm 33,64%, phản ánh biện pháp PVTM không chỉ tập trung vào một số ngành truyền thống, mà đã mở rộng sang nhiều nhóm hàng hóa khác. Sự đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam cũng đồng nghĩa với mở rộng phạm vi rủi ro PVTM. Nhóm này bao gồm nhiều mặt hàng có quy mô xuất khẩu nhỏ hơn nhưng tăng trưởng nhanh, dễ thu hút sự chú ý của cơ quan điều tra tại các nước nhập khẩu.

Bốn nhóm ngành hàng chịu tần suất điều tra chống lẩn tránh cao nhất, phản ánh rõ đặc điểm chuỗi cung ứng phụ thuộc nguyên liệu Trung Quốc:

- Gỗ dán cứng: kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng từ 33,4 triệu USD (2016) lên 322,2 triệu USD (2019); trong giai đoạn 7/2022-6/2023 đạt hơn 378 triệu USD, chiếm 27,8% tổng kim ngạch nhập khẩu cùng loại của Hoa Kỳ. CBP chính thức điều tra hành vi trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế từ tháng 10/2019 — chỉ hai năm sau khi Hoa Kỳ áp thuế với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc (11/2017) (thoibaotaichinhvietnam.vn, moit.gov.vn).

- Pin năng lượng mặt trời: DOC ra kết luận cuối cùng khẳng định hành vi lẩn tránh đối với sản phẩm hoàn thiện tại Campuchia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam sử dụng linh kiện từ Trung Quốc (Kết luận 18/8/2023, xác nhận qua nhiều hãng luật quốc tế: Akin Gump, Eversheds Sutherland, Morgan Lewis). DOC tiếp tục nhận hồ sơ đề nghị điều tra CBPG/CTC mới đối với sản phẩm này từ 4 nước Đông Nam Á vào 24/4/2024 (moit.gov.vn).

- Thép (bao gồm thép cán nguội, thép chống ăn mòn, và điển hình là thép cán nóng khổ rộng: DOC nhận định các công đoạn cán nguội, mạ kẽm hoặc sơn phủ thực hiện tại Việt Nam trên nền thép cán nóng nhập từ Trung Quốc “không tạo ra sự chuyển đổi đủ để thay đổi xuất xứ” (theo Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, 2026).

- Nhôm dây và cáp: DOC ra kết luận sơ bộ khẳng định hành vi lẩn tránh đối với sản phẩm hoàn thiện tại Hàn Quốc và Việt Nam sử dụng đầu vào từ Trung Quốc, trong khi cùng vụ việc Campuchia lại được kết luận không lẩn tránh (kết luận sơ bộ, Federal Register 7/8/2024; kết luận cuối cùng khẳng định lẩn tránh với Việt Nam ban hành 27/1/2025, 90 FR 8196) — minh chứng rõ cho tính chất xét riêng từng trường hợp của DOC, kể cả trong cùng một vụ điều tra. Đáng chú ý, theo cảnh báo cập nhật của Cục Phòng vệ thương mại (7/2026), bất chấp kết luận lẩn tránh nêu trên, kim ngạch xuất khẩu dây và cáp nhôm của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong quý I/2026 vẫn đạt 23,1 triệu USD, tăng 88,2% so với cùng kỳ, cho thấy áp lực giám sát đối với nhóm hàng này chưa hề giảm.

Theo quy mô và diễn biến số vụ: Trong khoảng 2 năm (giữa 2024 đến giữa 2025), số vụ chống lẩn tránh đã tăng từ 37 lên khoảng 40 vụ, trong bối cảnh tổng số vụ PVTM lũy kế tăng từ 252 vụ (tháng 6/2024, 24 thị trường) lên 298 vụ (cuối năm 2025, 25 thị trường) và 321 vụ (tháng 5/2026) — cho thấy tốc độ tăng của riêng nhóm chống lẩn tránh không hề chậm hơn xu hướng chung, bất chấp xuất phát điểm quy mô nhỏ hơn nhiều so với chống bán phá giá.

Theo quốc gia: Hoa Kỳ là thị trường khởi xướng điều tra chống lẩn tránh nhiều nhất đối với hàng Việt Nam, với khoảng 14 vụ khởi xướng kể từ sau khi Hoa Kỳ sửa đổi quy định liên quan vào tháng 9/2021 (ban hành 19 CFR 351.226), chiếm khoảng 35% tổng số vụ chống lẩn tránh mà Việt Nam từng đối mặt trên toàn cầu. Tính lũy kế toàn bộ lịch sử, trong tổng số 77 vụ PVTM mà Hoa Kỳ đã khởi xướng với hàng Việt Nam, có 23 vụ là điều tra chống lẩn tránh (bên cạnh 35 vụ chống bán phá giá, 16 vụ chống trợ cấp và 3 vụ tự vệ) — tỷ trọng chống lẩn tránh trong tổng số vụ của riêng Hoa Kỳ (~30%) cao hơn đáng kể so với tỷ trọng chống lẩn tránh trong tổng thể toàn cầu (~13-15%), cho thấy Hoa Kỳ có xu hướng sử dụng công cụ này tích cực hơn các thị trường khác.

Biểu đồ 2: Các quốc gia áp dụng biện pháp PVTM nhiều nhất đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

Biểu đồ số liệu từ tài liệu gốc

Nguồn: WTO

Dữ liệu thống kê cho thấy biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu tại một số thị trường nhất định, trong đó nổi bật là các nền kinh tế lớn và các quốc gia có ngành sản xuất trong nước nhạy cảm với cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. Cơ cấu này phản ánh rõ mối quan hệ giữa tốc độ gia tăng xuất khẩu của Việt Nam và phản ứng chính sách thương mại của các nước nhập khẩu. Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng PVTM nhiều nhất đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, với 21 vụ việc chống bán phá giá (AD); 7 vụ việc chống trợ cấp (CVD). Điều này phản ánh một số đặc điểm quan trọng:

- Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn hàng đầu của Việt Nam, do đó mức độ cạnh tranh với ngành sản xuất nội địa rất cao;

- Hệ thống pháp luật PVTM của Hoa Kỳ chặt chẽ và có phạm vi điều tra rộng, đặc biệt chú trọng đến yếu tố trợ cấp và can thiệp của Nhà nước;

- Các ngành hàng Việt Nam xuất khẩu mạnh sang Hoa Kỳ (thép, gỗ, thủy sản, dệt may, sản phẩm công nghiệp) đều là những ngành nhạy cảm về chính trị – kinh tế tại thị trường này.

Một đặc điểm đáng lưu ý là xu hướng “điều tra kép” (dual/multiple investigation) tại Hoa Kỳ — áp dụng đồng thời nhiều biện pháp PVTM khác nhau lên cùng một mặt hàng: lốp xe Việt Nam từng bị áp đồng thời thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp; pin năng lượng mặt trời chịu đồng thời điều tra chống trợ cấp, chống lẩn tránh và tự vệ; sản phẩm nhôm bị vừa điều tra chống bán phá giá vừa áp biện pháp chống lẩn tránh (Sputnik Việt Nam, 5/2026). Xu hướng này làm gia tăng đáng kể mức độ phức tạp và chi phí ứng phó của doanh nghiệp so với một vụ việc đơn lẻ.

Nguyên nhân và cơ chế hình thành rủi ro lẩn tránh đối với Việt Nam

Nguyên nhân sâu xa và mang tính hệ thống nhất là tình trạng dư thừa công suất sản xuất tại một số nền kinh tế lớn — đặc biệt là Trung Quốc — trong các ngành thép, nhôm, gỗ, pin năng lượng mặt trời. Khi các thị trường lớn (Hoa Kỳ, EU, Ấn Độ) áp thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp trực tiếp lên hàng hóa Trung Quốc, phần công suất dư thừa đó tạo ra động cơ kinh tế mạnh để dịch chuyển sang các nước thứ ba có FTA hoặc quan hệ thương mại thuận lợi hơn với thị trường đích — trong đó Việt Nam, với vị trí địa lý liền kề và mạng lưới FTA rộng, trở thành một trong những điểm đến được lựa chọn.

Bên cạnh yếu tố khách quan bên ngoài, bản thân cấu trúc tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam cũng tạo ra rủi ro nội sinh. Nhiều nghiên cứu trong nước thống nhất chỉ ra rằng nguyên nhân chính khiến số vụ việc PVTM (bao gồm chống lẩn tránh) áp dụng với hàng xuất khẩu Việt Nam gia tăng là do kim ngạch xuất khẩu tăng quá nhanh nhờ tận dụng các FTA thế hệ mới, với tần suất bị điều tra từ năm 2020 đã tăng gấp 2-3 lần so với giai đoạn trước đó (Tạp chí Quản lý nhà nước, 2025). Nhận định này được xác nhận độc lập bởi Tạp chí Cộng sản, cho rằng “xuất khẩu của nước ta tăng mạnh trong thời gian qua, nhờ tác động tích cực của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia các FTA” là nguyên nhân cốt lõi khiến nguy cơ lẩn tránh và gian lận xuất xứ vẫn có xu hướng gia tăng dù các cơ quan chức năng đã nỗ lực cảnh báo, giám sát.

Sự chuyển dịch trọng tâm giám sát: từ hành vi định giá sang toàn bộ chuỗi cung ứng

Một xu hướng mang tính bản chất, được ghi nhận trong nghiên cứu về chính sách PVTM của Hoa Kỳ giai đoạn 2021-2025, là sự dịch chuyển cách tiếp cận điều tra “từ kiểm soát hành vi định giá sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng” (Tạp chí Kinh tế Tài chính, 2026). Nếu như chống bán phá giá truyền thống chỉ xem xét giá bán so với giá trị thông thường tại một thời điểm, thì điều tra chống lẩn tránh đòi hỏi doanh nghiệp phải chứng minh chi tiết về xuất xứ nguyên liệu, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa, và toàn bộ lịch sử vận động của dòng nguyên liệu — nghĩa là mở rộng phạm vi giám sát ra toàn chuỗi cung ứng thay vì một giao dịch đơn lẻ.

Xu hướng siết chặt chống lẩn tránh toàn cầu giai đoạn tới

Hoa Kỳ: gắn chống lẩn tránh với chính sách thuế đối ứng và giám sát hải quan chủ động

Xu hướng nổi bật nhất tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 2025-2026 là việc chống lẩn tránh không còn là một công cụ pháp lý độc lập, mà được gắn kết trực tiếp với chính sách thuế đối ứng (reciprocal tariffs) theo Sắc lệnh 14257 (hiệu lực từ tháng 4/2025) và việc loại bỏ ngưỡng miễn thuế de minimis 800 USD (từ tháng 8/2025). Song song, Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới (CBP) đã siết chặt đáng kể công tác thực thi thông qua chương trình Đối tác Hải quan-Thương mại chống Khủng bố (CTPAT), với mức độ giám sát gia tăng đối với khâu định tuyến, khai báo xuất xứ và hồ sơ chứng từ đi kèm — nội dung đã được phân tích tại báo cáo cập nhật PVTM trước. Diễn biến mới nhất củng cố xu hướng này là việc DOC, sau khi áp thuế với pin năng lượng mặt trời từ 4 nước Đông Nam Á (bao gồm Việt Nam) vào tháng 4/2025, tiếp tục mở điều tra dịch chuyển sản xuất sang Indonesia và Lào — hai nước chưa bị áp thuế tại thời điểm đó, cho thấy Hoa Kỳ đang chủ động “đón đầu” làn sóng dịch chuyển tiếp theo thay vì chỉ phản ứng sau khi phát hiện.

Về khung thể chế, việc Hoa Kỳ xác nhận Việt Nam tiếp tục là nền kinh tế phi thị trường (2/8/2024) đồng nghĩa với việc áp lực giám sát chống lẩn tránh nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong trung hạn, do quy chế NME vốn gắn liền với giả định mức độ can thiệp nhà nước cao hơn vào hoạt động sản xuất — một trong những yếu tố khiến cơ quan điều tra Hoa Kỳ có xu hướng nghi ngờ nhiều hơn đối với hàng hóa xuất xứ Việt Nam.

Liên minh châu Âu: mở rộng nội hàm chống lẩn tránh sang chính sách khí hậu và trừng phạt

EU đang đi theo hướng mở rộng phạm vi khái niệm “lẩn tránh” ra ngoài lĩnh vực chống bán phá giá/chống trợ cấp truyền thống. Hai mũi mở rộng chính gồm: CBAM (Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon) — từ 1/1/2026, EU vận hành đầy đủ giai đoạn tài chính của CBAM, kèm quy định chống lẩn tránh mới nhằm ngăn hiện tượng resource shuffling; tháng 12/2025, Ủy ban châu Âu đã đề xuất mở rộng phạm vi CBAM sang các sản phẩm hạ nguồn (downstream products) sử dụng thép, nhôm — nhằm ngăn rủi ro rò rỉ carbon dịch chuyển xuống hạ nguồn chuỗi giá trị; đến 12/6/2026, Hội đồng châu Âu tiếp tục thống nhất lập trường mở rộng danh mục sản phẩm hạ nguồn và tăng cường quy tắc chống lẩn tránh (Hội đồng châu Âu, 6/2026). Bên cạnh đó là lĩnh vực trừng phạt kinh tế (sanctions) — như đã phân tích ở báo cáo trước, EU đang mở rộng nội hàm “chống lẩn tránh” sang giám sát mạng lưới “đội tàu bóng tối” hỗ trợ Nga né tránh trừng phạt năng lượng — diễn biến có ý nghĩa gián tiếp đối với các ngành hàng có thể bị cuốn vào chuỗi cung ứng liên quan, dù không trực tiếp nhằm vào Việt Nam.

Điểm chung của cả hai xu hướng là EU đang chuyển từ mô hình “chống lẩn tránh phản ứng” (chỉ điều tra khi phát hiện dấu hiệu cụ thể) sang mô hình “giám sát chủ động, phòng ngừa trước” — thể hiện qua việc tái cấu trúc “import barometer” (công cụ giám sát nhập khẩu theo thời gian thực, thiết lập từ 2025) và ban hành quy định bảo vệ ngành thép EU trước tác động dư thừa công suất toàn cầu, có hiệu lực từ 1/7/2026 (policy.trade.ec.europa.eu).

Hiệu ứng “domino” dịch chuyển điều tra sang các nước ASEAN khác

Kinh nghiệm của một số nước ASEAN cho thấy phản ứng chính sách đa dạng trước cùng một áp lực. Để phòng tránh bị điều tra chống lẩn tránh, Malaysia đã chủ động siết chặt quy định về xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt đối với các trường hợp tạm nhập tái xuất — một hướng đi chủ động hơn so với cách tiếp cận chủ yếu dựa trên hậu kiểm của Việt Nam. Diễn biến vụ việc thép cán nóng khổ rộng, khi DOC Hoa Kỳ mở điều tra dịch chuyển sang Indonesia và Lào ngay sau khi áp thuế với 4 nước Đông Nam Á khác, là minh chứng cụ thể cho quy luật mang tính cấu trúc: bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào — kể cả các nước hiện chưa bị điều tra — đều có thể trở thành điểm đến tiếp theo của làn sóng dịch chuyển nếu chênh lệch thuế suất giữa các nước còn đủ lớn. Điều này đặt ra yêu cầu phối hợp khu vực (không chỉ riêng lẻ từng nước) trong dài hạn, dù hiện tại mỗi nước ASEAN vẫn đang chủ yếu tự xây dựng cơ chế phòng ngừa riêng.

Từ những phân tích trên đối với cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm lên cấp độ giám sát chi tiết theo mã hàng. Cần bổ sung công cụ phân tích cơ cấu nội bộ từng mã hàng để phát hiện các điểm “nhảy vọt bất thường” quanh ranh giới ngưỡng kỹ thuật đang được dùng làm căn cứ phân loại áp thuế ở nước ngoài. Xem xét mô hình giám sát chủ động, phòng ngừa trước theo hướng Malaysia đã áp dụng — siết chặt ngay từ khâu cấp phép xuất khẩu đối với các trường hợp tạm nhập tái xuất, nhóm hàng có nguy cơ cao thay vì chỉ dựa vào hậu kiểm.

Đối với hiệp hội ngành hàng cần nhân rộng mô hình giám sát nội ngành như đã triển khai giữa Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát Dung Quất và Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh trong vụ việc thép cán nóng khổ rộng — nơi chính doanh nghiệp trong ngành là bên phát hiện và cung cấp hồ sơ yêu cầu điều tra, đóng vai trò hỗ trợ cho hệ thống cảnh báo sớm của Nhà nước, đặc biệt hiệu quả với các hình thức lẩn tránh tinh vi mà công cụ giám sát vĩ mô khó phát hiện kịp thời.

Xây dựng năng lực tài chính và pháp lý để chủ động khởi xướng điều tra — không chỉ chống lẩn tránh nhập khẩu vào Việt Nam mà cả trong việc cung cấp thông tin, dữ liệu hỗ trợ cơ quan quản lý ứng phó các vụ việc nước ngoài điều tra hàng xuất khẩu Việt Nam.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu cần đầu tư thực chất vào năng lực sản xuất nội địa, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu để giảm phụ thuộc vào quốc gia đang bị các thị trường lớn áp thuế PVTM cao — đặc biệt với các nhóm hàng đã từng là đối tượng điều tra như thép, gỗ, pin năng lượng mặt trời (Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, 2026).

Lưu trữ đầy đủ, có hệ thống hồ sơ truy xuất nguồn gốc — hợp đồng mua nguyên liệu, chứng từ vận chuyển, hóa đơn thương mại, nhật ký sản xuất, định mức tiêu hao — sẵn sàng giải trình bằng tiếng Anh khi cần.

Tiếp cận hỗ trợ pháp lý sớm, đặc biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn thiếu nguồn lực tự ứng phó, thông qua cơ chế hỗ trợ pháp lý mà Nghị định 86/2025/NĐ-CP mới thiết lập cũng như đội ngũ luật sư, chuyên gia tư vấn PVTM quốc tế mà giới nghiên cứu khuyến nghị cần được đầu tư phát triển thêm.

Ngày đăng: