Quay lại chuyên mục

KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VÀ ASEAN TRONG ĐIỀU TRA LẨN TRÁNH PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Ngày đăng:

Trong những năm gần đây, thương mại quốc tế chứng kiến xu hướng gia tăng mạnh mẽ các biện pháp phòng vệ thương mại trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng giữa các nền kinh tế lớn. Các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp không còn chỉ được sử dụng như công cụ bảo vệ ngành sản xuất nội địa, mà còn trở thành một phần quan trọng trong chính sách thương mại và chiến lược cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng áp dụng các biện pháp này là sự gia tăng các hành vi lẩn tránh nhằm duy trì khả năng tiếp cận thị trường thông qua việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng, chuyển tải thương mại hoặc dịch chuyển hoạt động sản xuất sang quốc gia thứ ba.

Trong số các quốc gia sử dụng công cụ điều tra lẩn tránh, Hoa Kỳ được xem là quốc gia có hệ thống pháp lý và cơ chế thực thi mạnh mẽ nhất. Thông qua Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC), nhiều cuộc điều tra lẩn tránh đã được triển khai đối với các sản phẩm thép, nhôm, gỗ, điện tử và năng lượng tái tạo có liên quan đến Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Thực tiễn cho thấy sau khi Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với hàng hóa Trung Quốc, dòng thương mại có xu hướng dịch chuyển sang các quốc gia khác, đặc biệt là khu vực ASEAN.

Các biện pháp phòng vệ thương mại là công cụ hợp pháp mà các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được phép áp dụng nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh không công bằng từ hàng hóa nhập khẩu. Ba loại biện pháp phổ biến gồm: chống bán phá giá (CBPG), chống trợ cấp (CTC) và biện pháp tự vệ. Khi áp dụng các biện pháp này phải tuân thủ các quy định trong các hiệp định liên quan của WTO như Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) 1994, Hiệp định Chống bán phá giá, Hiệp định Trợ cấp và Biện pháp đối kháng, và Hiệp định Tự vệ. Các biện pháp phòng vệ thương mại có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như áp thuế, yêu cầu ký quỹ, hạn chế định lượng…

Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp đã tìm cách né tránh các biện pháp này thông qua các hành vi như chuyển tải hàng hóa qua nước thứ ba, thay đổi xuất xứ, hoặc điều chỉnh chi tiết sản phẩm để không bị nhận diện là đối tượng bị áp thuế. Đây chính là hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, tức là cố tình trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi các biện pháp đang có hiệu lực đối với hàng hóa nhập khẩu.

Trước tình trạng này, một số quốc gia – đặc biệt là Hoa Kỳ – đã tăng cường điều tra chống lẩn tránh nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại. Các hình thức lẩn tránh phổ biến bao gồm: lắp ráp hoặc hoàn thiện hàng hóa tại nước thứ ba hoặc tại nước nhập khẩu với giá trị gia tăng không đáng kể để thay đổi xuất xứ; hoặc thay đổi các chi tiết nhỏ trên sản phẩm hay phiên bản mới mà không có chuyển đổi đáng kể để né tránh phạm vi áp dụng của biện pháp phòng vệ thương mại.

Khác với các biện pháp CBPG, CTC và tự vệ vốn được quy định rõ trong các hiệp định của WTO, điều tra chống lẩn tránh hiện chưa có quy định cụ thể trong hệ thống pháp lý của WTO mà chủ yếu phụ thuộc vào nội luật của từng quốc gia.

Theo quy định tại Điều 72.1 của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, “Lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại là hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp phòng vệ thương mại đang có hiệu lực đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp này khi nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam”.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 86/2025/NĐ-CP ngày 11/4/2025, thay thế Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018, nhằm cụ thể hóa Luật Quản lý ngoại thương. Trong đó, Mục 1 thuộc Chương IV (Điều 81–86) đã quy định các hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm:

Hàng hoá lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam.

Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua sản xuất, lắp ráp tại nước thứ ba.

Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua thay đổi không đáng kể hàng hóa bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại bằng việc chuyển tải thông qua một hoặc nhiều nước khác nhau.

Hàng hóa lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại thông qua thay đổi nhà sản xuất để hưởng lợi từ chênh lệch mức độ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Trong hệ thống luật pháp của Hoa Kỳ, quy định chính thức đầu tiên về chống lẩn tránh thuế của Hoa Kỳ được đưa ra tại Điều 1321 của Luật Thương mại và Cạnh tranh tổng hợp 1988 (Omnibus Trade and Competitive Act) (Luật Thương mại 1988) với tên gọi “Ngăn chặn việc lẩn tránh lệnh áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp” (được pháp điển tại Điều 781 Luật Thuế Xuất nhập khẩu 1930, Phần 19 Bộ luật Liên bang Hoa Kỳ U.S.C 1677j).

Quy định này ra đời một mặt để theo kịp với quy định của EU về chống lẩn tránh thuế được thông qua vào năm 1987 và mặt khác là do quan ngại việc các nhà sản xuất châu Á tham gia vào các hành vi lẩn tránh thuế. Cho tới hiện nay, Điều 781 của Luật Thuế xuất nhập khẩu 1930 vẫn là quy định chính về điều tra chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ. Quy trình, thủ tục điều tra chống lẩn tránh được quy định cụ thể tại Mục 19 CFR 351.226 và cơ chế tự xác nhận để miễn áp dụng biện pháp chống lẩn tránh được quy định tại Mục 19 CFR351.228. Các quy định này đã được sửa đổi đáng kể vào ngày 20 tháng 9 năm 2021, và có hiệu lực từ ngày 4 tháng 11 năm 2021.

Thực tiễn điều tra chống lẩn tránh của Hoa Kỳ, trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2024, Hoa Kỳ đã khởi xướng 46 vụ việc điều tra chống lẩn tránh (Bảng 1). Hầu hết các vụ việc được khởi xướng trên cơ sở đơn kiện của ngành sản xuất nội địa và đa số các vụ việc có kết luận cuối cùng là có hiện tưởng lẩn tránh thuế và/hoặc hàng hóa nhập khẩu từ nhà xuất khẩu bị điều tra hoặc nước xuất khẩu bị điều tra thuộc phạm vi áp thuế của Lệnh áp thuế gốc. Số lượng các vụ việc có xu hướng tăng mạnh kể từ năm 2022 trở đi, đặc biệt sau đại dịch COVID-19 khi các nước siết chặt bảo hộ thương mại để phục hồi nền kinh tế và kể từ khi quy định sửa đổi về điều tra chống lẩn tránh mới của Hoa Kỳ có hiệu lực. Chỉ riêng trong năm 2022, Hoa Kỳ đã thực hiện điều tra 17 vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế.

Các ngành hàng thường xuyên bị điều tra lẩn tránh gồm: sản phẩm thép và kim loại, đồ gỗ, nhôm, xe đạp điện, năng lượng mặt trời, hóa chất, dệt may và thiết bị gia dụng. Đây là những ngành có đặc điểm dễ chuyển tải, dễ gia công tại nước thứ ba, và có chuỗi cung ứng xuyên quốc gia.

Trung Quốc là quốc gia có lệnh áp thuế CBPG, CTC (quốc gia chịu lệnh áp thuế gốc) bị lẩn tránh nhiều nhất, chiếm trên 60% tổng số vụ điều tra. Các sản phẩm điều tra đa dạng: từ thép, nhôm, hóa chất, đến nông sản, đồ nội thất và năng lượng tái tạo. Năm 2022 là đỉnh điểm với 11 mặt hàng bị áp thuế CBPG, CTC của Trung Quốc bị điều tra lẩn tránh. Tuy nhiên, phạm vi điều tra của Hoa Kỳ cũng mở rộng sang lệnh áp thuế của các quốc gia khác, đặc biệt là ở khu vực Châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) - bắt đầu bị điều tra từ năm 2018 đến 2022. Các nước có lệnh áp thuế mới bị điều tra như Brazil, Indone-sia, Bồ Đào Nha, UAE, Úc thường liên quan đến các sản phẩm như giấy và nhựa.

Nhìn chung, trong điều tra chống lẩn tránh, Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến việc lẩn tránh lệnh áp thuế CBPG, CTC áp dụng cho các quốc gia Châu Á, đứng đầu là Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc). Ngoài ra, đây cũng là các quốc gia cung ứng nguồn nguyên liệu đầu vào lớn cho sản xuất của các quốc gia khác trong khu vực (đặc biệt ngành thép, nhôm), dẫn tới việc các quốc gia khác dễ vướng vào các vụ việc điều tra lẩn tránh biện pháp CBPG, CTC khi sử dụng nguyên liệu từ các quốc gia này để sản xuất và xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Bảng 1: Thống kê các vụ việc điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM của Hoa Kỳ trong giai đoạn 2015 - 2024

Năm khởi xướng điều tra chống lẩn tránh

Quốc gia chịu lệnh áp thuế gốc

Vụ việc điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM của Hoa Kỳ

2024

Trung Quốc

Axit diphosphonic hoặc axit HEDP Bột ngọt (Monosodium glutamate)

2023

Trung Quốc

Thanh ren bằng thép hợp kim và carbon

Dây và cáp nhôm

Tỏi tươi

Bình khí thép không nạp lại

Mexico

Dây thép ứng suất trước dùng trong bê tông

2022

Trung Quốc

Lá nhôm

Kệ thép lắp ghép không cần bulong

Ống thép carbon hàn tròn

Đinh thép ghép

Tấm nhôm hợp kim

Ống thép hình chữ nhật thành mỏng

Máy cắt cỏ đi bộ và linh kiện

Tế bào năng lượng mặt trời

Đá thạch anh nhân tạo

Động cơ trục đứng 99–225cc và linh kiện

Tủ gỗ và các bộ phận của tủ

Ấn Độ

Ống và ống thép carbon hàn

Hàn Quốc

Ống thép tròn không hợp kim

Ống thép hình chữ nhật mỏng Dây thép không gỉ

Đài Loan (Trung Quốc)

Ống thép carbon hàn

Ống thép hình chữ nhật nhẹ

2021

Trung Quốc

Vải silica vô định hình

2020

Trung Quốc

Ống thép dùng trong ngành dầu khí Thép không gỉ dạng tấm và dải

2019

Trung Quốc

Giấy không tráng phủ

Hỗn hợp và thành phần hydrofluorocarbon

Mexico

Thép cốt bê tông

2018

Trung Quốc

Phụ kiện nối ống thép carbon Gỗ dán cứng

Lưỡi cưa kim cương và bộ phận

Hàn Quốc

Thép lá cán nguội Thép chống ăn mòn

Mexico

Dây thép carbon và hợp kim

Đài Loan

(Trung Quốc)

Thép chống ăn mòn

2017

Úc

Giấy không tráng phủ

Brazil

Giấy không tráng phủ

Trung Quốc

Thép lá cán nguội

Thép chống ăn mòn

Lò xo không bọc

Indonesia

Giấy không tráng phủ

Bồ Đào Nha

Giấy không tráng phủ

2016

Trung Quốc

Nhôm đùn ép- Tấm thép carbon cắt theo chiều dài

2015

UAE

Màng, tấm và dải polyethylene terephthalate (PET)

Nguồn: Thông báo của Hoa Kỳ lên WTO (Semi-annual report for ommittee on Anti-Dumping Practices and Committee on Subsidies and ountervailing Measures)

Chỉ riêng trong giai đoạn 5 năm từ năm 2018 đến 2022 ngay trước khi quy định mới về điều tra chống lẩn tránh được ban hành và có hiệu lực, DOC đã ban hành kết luận cuối cùng đối với 33 vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại (Bảng 1). Các sản phẩm bị điều tra chủ yếu thuộc các nhóm ngành như thép, hóa chất, gỗ và giấy. Phần lớn các vụ việc được khởi xướng dựa trên đơn kiện của ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ, chỉ có một số ít trường hợp do DOC tự khởi xướng điều tra. Kết quả điều tra cho thấy đa số các vụ việc đều có kết luận rằng có hành vi lẩn tránh thuế. Theo đó, hàng hóa nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu hoặc quốc gia bị điều tra được xác định là thuộc phạm vi áp dụng của lệnh áp thuế gốc. Đáng chú ý, một số lệnh áp thuế gốc đã trở thành đối tượng của nhiều hơn một vụ điều tra chống lẩn tránh, phản ánh tính phức tạp và dai dẳng của hành vi này.

Các hình thức lẩn tránh phổ biến được ghi nhận bao gồm:

Lắp ráp hoặc hoàn thiện hàng hóa tại Hoa Kỳ hoặc nước thứ ba: Ví dụ, giấy không tráng nhập khẩu từ Brazil, Indonesia và Trung Quốc được sản xuất thành giấy tráng phủ tại Hoa Kỳ nhằm né tránh thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp.

Chuyển tải qua nước thứ ba: Các sản phẩm thép như CORE và CRS được hoàn thiện tại Malaysia, Việt Nam, Costa Rica hoặc UAE từ nguyên liệu gốc sản xuất tại Trung Quốc, sau đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Thay đổi không đáng kể về hình thức hàng hóa: Một số sản phẩm như thép cây từ Mexi-co hoặc thép dây có đường kính nhỏ hơn tiêu chuẩn bị điều chỉnh nhẹ để nằm ngoài phạm vi áp thuế.

Pha trộn hoặc gia công tại nước thứ ba: Ví dụ, hỗn hợp HFC từ Trung Quốc được pha trộn tại Ấn Độ trước khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ.

Trong nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc đã giữ vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến – chế tạo như thép, nhôm, điện tử và năng lượng tái tạo. Với lợi thế về quy mô sản xuất, chi phí cạnh tranh và hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh, Trung Quốc không chỉ là nhà xuất khẩu lớn mà còn là nguồn cung nguyên liệu đầu vào quan trọng cho nhiều quốc gia.

Tuy nhiên, chính vị trí trung tâm này cũng khiến Trung Quốc trở thành đối tượng chính của các biện pháp phòng vệ thương mại từ Hoa Kỳ, đặc biệt là thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp. Khi các biện pháp này được áp dụng, các doanh nghiệp Trung Quốc có xu hướng điều chỉnh chiến lược sản xuất và xuất khẩu, bao gồm việc dịch chuyển một phần chuỗi giá trị sang các quốc gia thứ ba; tăng xuất khẩu bán thành phẩm thay vì thành phẩm; gia công, lắp ráp tại quốc gia khác trước khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Xu hướng chuyển dịch của Trung Quốc làm gia tăng nguy cơ bị điều tra lẩn tránh, không chỉ đối với Trung Quốc mà còn đối với các quốc gia tiếp nhận dòng dịch chuyển sản xuất.

Trong thực tiễn, Hoa Kỳ đã tiến hành nhiều cuộc điều tra lẩn tránh liên quan đến hàng hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc. Các ngành bị ảnh hưởng chủ yếu bao gồm:

Ngành thép: Các sản phẩm thép chống ăn mòn, thép cán nguội… được gia công tại nước thứ ba trước khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Ngành nhôm: Các sản phẩm nhôm định hình và bán thành phẩm có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng được hoàn thiện tại quốc gia khác.

Ngành năng lượng mặt trời: Các tấm pin và linh kiện được sản xuất tại Trung Quốc nhưng lắp ráp tại các nước ASEAN.

Các vụ việc này cho thấy một mô hình chung: sau khi Hoa Kỳ áp thuế, xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc giảm, trong khi xuất khẩu từ các quốc gia khác tăng lên đáng kể. Đây là cơ sở để cơ quan điều tra nghi ngờ có hành vi lẩn tránh thông qua chuyển tải hoặc gia công không đáng kể.

Đối mặt với áp lực từ các cuộc điều tra, doanh nghiệp và Chính phủ Trung Quốc đã triển khai nhiều chiến lược ứng phó:

Thứ nhất, dịch chuyển sản xuất ra nước ngoài nhằm duy trì khả năng tiếp cận thị trường. Các doanh nghiệp đầu tư vào các quốc gia có chi phí thấp và ít bị áp thuế hơn, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á.

Thứ hai, nâng cao mức độ nội địa hóa và giá trị gia tăng, nhằm chứng minh rằng sản phẩm được sản xuất thực chất tại quốc gia thứ ba, qua đó giảm nguy cơ bị coi là lẩn tránh.

Thứ ba, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào Hoa Kỳ và tăng cường khai thác các thị trường mới.

Thứ tư, tăng cường năng lực pháp lý và tuân thủ, bao gồm việc hợp tác với cơ quan điều tra, chuẩn bị hồ sơ và tham gia quá trình giải trình.

Các chiến lược của Trung Quốc đã mang lại một số kết quả tích cực, đặc biệt trong việc duy trì kim ngạch xuất khẩu và thích ứng với môi trường thương mại biến động. Khu vực ASEAN đã trở thành điểm đến quan trọng của dòng dịch chuyển sản xuất toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Các quốc gia như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan và Campuchia thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài trong các ngành công nghiệp chế biến – chế tạo. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động sản xuất và xuất khẩu cũng kéo theo rủi ro bị điều tra lẩn tránh, khi Hoa Kỳ nghi ngờ rằng các quốc gia này đang trở thành “trạm trung chuyển” cho hàng hóa từ Trung Quốc.

Các quốc gia ASEAN đã đối mặt với nhiều vụ điều tra lẩn tránh của Hoa Kỳ, tập trung vào một số ngành chủ chốt:

Việt Nam: Đối mặt với nhiều vụ điều tra liên quan đến thép chống ăn mòn, thép cán nguội, gỗ dán, tủ gỗ, pin năng lượng mặt trời. Các vấn đề Hoa Kỳ thường đặt ra gồm: Nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc; Mức độ gia công tại Việt Nam; Sự gia tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.

Malaysia và Thái Lan: Ngành linh kiện điện tử, pin năng lượng có dòng đầu tư lớn từ doanh nghiệp Trung Quốc, xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng nhanh bất thường trong khi hoạt động lắp ráp bị nghi ngờ chưa tạo ra giá trị đáng kể trở thành đối tượng điều tra của Hoa Kỳ.

Campuchia: Sản phẩm năng lượng mặt trời và dệt may có sự gia tăng đột biến xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong thời gian ngắn, đi kèm với nghi vấn về nguồn gốc nguyên liệu và mức độ gia công.

Trước áp lực điều tra, các nước ASEAN đã áp dụng nhiều biện pháp ứng phó như tăng cường hợp tác với cơ quan điều tra Hoa Kỳ, thông qua việc cung cấp thông tin đầy đủ và tham gia tích cực vào quá trình xác minh. Thực hiện minh bạch hóa hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng, bao gồm việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và kiểm soát xuất xứ. Tăng cường nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ các quốc gia bị áp thuế. Kết hợp hoàn thiện khung pháp lý trong nước, nhằm kiểm soát gian lận xuất xứ và tăng cường năng lực quản lý. Tuy nhiên các nước ASEAN gặp một số những hạn chế và thách thức sau:

Thứ nhất, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu và công nghệ từ bên ngoài, khiến việc nâng cao giá trị gia tăng gặp khó khăn, khó chứng minh được xuất xứ

Thứ hai, năng lực pháp lý còn hạn chế là năng lực quản trị doanh nghiệp chưa đồng đều, đặc biệt trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp ASEAN còn thiếu kinh nghiệm điểu tra phòng vệ thương mại, thiếu hệ thống lưu trữ dữ liệu, không có khả năng thuê tư vấn quốc tế.

Thứ ba là hệ thống kiểm soát xuất xứ còn chưa hoàn thiện, dẫn đến nguy cơ bị lợi dụng làm nơi trung chuyển. Một số quốc gia ASEAN tồn tại tình trạng chuyền tải bất hợp pháp, gian lận C/O, lợi dụng ưu đãi thương mại

Những hạn chế này cho thấy ASEAN vẫn đang trong quá trình chuyển đổi từ “nền tảng sản xuất gia công” sang “nền tảng sản xuất thực chất”, và do đó dễ bị tổn thương trước các cuộc điều tra lẩn tránh.

Bảng 2. So sánh kinh nghiệm ứng phó điều tra lẩn tránh của Trung Quốc và các nước ASEAN

Nội dung

Trung Quốc

ASEAN

Bài học cho Việt Nam

Tác động từ AD/CVD

Bị áp thuế quy mô lớn

Bị ảnh hưởng gián tiếp

Cần theo dõi chính sách

Chuyển hướng thương mại

Xuất khẩu giảm trực tiếp

Xuất khẩu tăng thay thế

Tránh tăng trưởng đột biến

Năng lực sản xuất

Công nghiệp hoàn chỉnh

Gia công, phụ thuộc FDI

Phát triển nội lực

Giá trị gia tăng

Cao

Thấp

Tăng nội địa hóa

Ứng phó pháp lý

Chủ động

Bị động

Nâng cao năng lực pháp lý

Chuỗi cung ứng

Kiểm soát tốt

Phụ thuộc bên ngoài

Minh bạch hóa

Chiến lược thị trường

Đa dạng hóa

Phụ thuộc Mỹ

Mở rộng thị trường

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Kết quả so sánh tại Bảng 2 cho thấy, mặc dù cùng chịu tác động từ các biện pháp phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ, song sự khác biệt về năng lực sản xuất và mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đã tạo ra khoảng cách đáng kể trong khả năng ứng phó giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Trung Quốc với nền tảng công nghiệp vững chắc có xu hướng chủ động tái cấu trúc chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng, trong khi ASEAN phần lớn vẫn ở vị trí gia công, dễ bị tổn thương trước các cuộc điều tra lẩn tránh. Điểm đáng lưu ý là cả hai nhóm đều đối mặt với rủi ro gia tăng khi xuất khẩu tăng trưởng nhanh sau khi các biện pháp thuế được áp dụng, cho thấy yếu tố “tăng trưởng bất thường” là tín hiệu cảnh báo quan trọng. Từ đó, có thể khẳng định rằng năng lực sản xuất thực chất, minh bạch chuỗi cung ứng và chiến lược thị trường dài hạn là ba trụ cột then chốt giúp giảm thiểu rủi ro bị điều tra lẩn tránh.

Kinh nghiệm từ các vụ điều tra lẩn tránh của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc và các nước ASEAN cho thấy rằng rủi ro phòng vệ thương mại không còn chỉ xuất phát từ hành vi bán phá giá hay trợ cấp, mà ngày càng gắn chặt với cấu trúc chuỗi cung ứng, xuất xứ nguyên liệu và mức độ tham gia thực chất của quốc gia vào quá trình sản xuất. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và trở thành điểm đến của dòng dịch chuyển đầu tư quốc tế, việc nghiên cứu và rút ra bài học kinh nghiệm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tăng trưởng xuất khẩu bền vững và hạn chế rủi ro pháp lý trong thương mại quốc tế.

Bài học thứ nhất: Nâng cao năng lực sản xuất

Một trong những bài học rõ nét nhất từ kinh nghiệm của Trung Quốc và ASEAN là năng lực sản xuất thực chất đóng vai trò quyết định trong việc đánh giá nguy cơ lẩn tránh. Trong nhiều vụ việc, Hoa Kỳ không chỉ xem xét quốc gia xuất khẩu cuối cùng mà tập trung phân tích toàn bộ chuỗi sản xuất, bao gồm nguồn gốc nguyên liệu, mức độ gia công và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa. Những quốc gia chỉ thực hiện các công đoạn lắp ráp hoặc gia công đơn giản thường bị coi là không tạo ra sự chuyển đổi đáng kể về bản chất sản phẩm và do đó có nguy cơ cao bị áp dụng biện pháp chống lẩn tránh.

Đối với Việt Nam, bài học này cho thấy cần chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa trên gia công sang mô hình sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mở rộng quy mô sản xuất mà còn phải phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực chế biến sâu và tăng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành xuất khẩu chủ lực. Nếu vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt từ các quốc gia đang bị áp thuế như Trung Quốc, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục đối mặt với nguy cơ bị coi là sản phẩm “gia công chuyển tiếp” trong các cuộc điều tra của Hoa Kỳ.

Bài học thứ hai: Minh bạch hóa chuỗi cung ứng và kiểm soát xuất xứ

Thực tiễn điều tra của Hoa Kỳ cho thấy xu hướng chuyển từ kiểm tra sản phẩm đơn lẻ sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng. Trong nhiều vụ việc liên quan đến thép, gỗ và pin năng lượng mặt trời, cơ quan điều tra Hoa Kỳ đã xem xét chi tiết về nguồn gốc nguyên liệu đầu vào; quy trình sản xuất; mức độ gia công tại nước xuất khẩu; mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.

Đối với Việt Nam, bài học đặt ra là cần xây dựng hệ thống quản lý xuất xứ và truy xuất nguồn gốc chặt chẽ hơn ở cả cấp doanh nghiệp và cấp quốc gia. Doanh nghiệp cần chủ động lưu trữ hồ sơ về nguyên liệu, quy trình sản xuất và dữ liệu thương mại nhằm chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa khi bị điều tra. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường kiểm soát việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), hạn chế tình trạng chuyển tải bất hợp pháp hoặc gian lận xuất xứ.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi chỉ cần một số vụ gian lận xuất xứ xảy ra cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của toàn ngành hoặc toàn bộ quốc gia xuất khẩu. Trong bối cảnh Hoa Kỳ ngày càng siết chặt kiểm tra chuỗi cung ứng, tính minh bạch sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Bài học thứ 3: Kiểm soát dòng vốn đầu tư và dịch chuyển sản xuất

Kinh nghiệm từ ASEAN cho thấy dòng dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc có thể tạo ra cả cơ hội lẫn rủi ro. Thu hút FDI giúp mở rộng năng lực sản xuất và gia tăng xuất khẩu, tuy nhiên nếu thiếu cơ chế giám sát hiệu quả, quốc gia tiếp nhận có thể trở thành địa điểm trung chuyển nhằm né tránh thuế phòng vệ thương mại.

Trong nhiều vụ điều tra của Hoa Kỳ, sự gia tăng nhanh chóng của xuất khẩu từ các nước ASEAN sau khi áp thuế đối với Trung Quốc đã trở thành cơ sở để cơ quan điều tra nghi ngờ có hành vi lẩn tránh. Đối với Việt Nam, bài học kinh nghiệm là cần lựa chọn dòng vốn FDI theo hướng có chọn lọc, ưu tiên các dự án có công nghệ cao, tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ. Ngược lại, cần kiểm soát chặt các dự án chỉ thực hiện lắp ráp đơn giản hoặc có dấu hiệu lợi dụng Việt Nam như một địa điểm trung chuyển xuất khẩu.

Bài học thứ tư: Xây dựng năng lực pháp lý và ứng phó điều tra

Một điểm khác biệt lớn giữa doanh nghiệp Trung Quốc và nhiều doanh nghiệp ASEAN là năng lực pháp lý và khả năng ứng phó với các cuộc điều tra phòng vệ thương mại. Doanh nghiệp Trung Quốc thường có sự chuẩn bị tốt hơn về dữ liệu, hồ sơ và chiến lược pháp lý, trong khi nhiều doanh nghiệp ASEAN còn bị động, thiếu kinh nghiệm và không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cơ quan điều tra.

Từ kinh nghiệm của Trung Quốc và ASEAN rút ra bài học doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận từ “ứng phó khi xảy ra vụ việc” sang “phòng ngừa và chuẩn bị dài hạn”. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu đầy đủ, bao gồm: thông tin nguyên liệu đầu vào; chi phí sản xuất; quy trình công nghệ; hợp đồng thương mại; chứng từ xuất xứ. Bên cạnh đó, việc nâng cao hiểu biết về pháp luật thương mại quốc tế và chủ động hợp tác với cơ quan điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giảm thiểu bất lợi.

Ở cấp độ quốc gia, cần xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn là điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng chống chịu của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng phức tạp.

Bài học thứ 5: Chiến lược xuất khẩu bền vững

Một đặc điểm nổi bật trong nhiều vụ điều tra lẩn tránh là sự gia tăng đột biến của kim ngạch xuất khẩu trong thời gian ngắn. Hoa Kỳ thường coi đây là dấu hiệu cho thấy khả năng tồn tại hành vi chuyển tải hoặc né tránh thuế. Kinh nghiệm từ ASEAN cho thấy tăng trưởng xuất khẩu quá nhanh, đặc biệt trong các ngành nhạy cảm như thép, gỗ hoặc năng lượng mặt trời, có thể làm gia tăng đáng kể nguy cơ bị điều tra.

Do đó, Việt Nam cần xây dựng chiến lược xuất khẩu theo hướng bền vững hơn, tránh phụ thuộc quá mức vào một số thị trường hoặc một số ngành hàng có rủi ro cao. Quan trọng hơn, tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn tới cần dựa trên năng lực cạnh tranh thực chất thay vì lợi thế ngắn hạn từ dịch chuyển thương mại toàn cầu. Chỉ khi đó, Việt Nam mới có thể duy trì vị thế trong chuỗi giá trị quốc tế mà không trở thành đối tượng thường xuyên của các cuộc điều tra lẩn tránh.

Các bài học kinh nghiệm cho thấy rủi ro điều tra lẩn tránh không chỉ xuất phát từ hành vi của doanh nghiệp, mà còn phản ánh cấu trúc của nền kinh tế và vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Do đó, việc ứng phó hiệu quả đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa nâng cao năng lực nội tại, hoàn thiện thể chế và chủ động hội nhập. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để Việt Nam duy trì tăng trưởng xuất khẩu bền vững trong bối cảnh gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại trên toàn cầu.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng phức tạp, điều tra lẩn tránh đang trở thành công cụ quan trọng nhằm duy trì hiệu lực của các biện pháp phòng vệ thương mại. Kinh nghiệm của Trung Quốc và ASEAN cho thấy rủi ro này không chỉ mang tính ngắn hạn mà còn phản ánh những vấn đề mang tính cấu trúc của nền kinh tế. Đối với Việt Nam, việc nâng cao năng lực sản xuất nội địa, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và chủ động thích ứng với các quy định quốc tế là những yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và Nhà nước nhằm xây dựng một hệ sinh thái thương mại bền vững và có khả năng chống chịu cao.

Ngày đăng: