Chống lẩn tránh phòng vệ thương mại: Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam
Ngày đăng:
I. Bối cảnh và một số vấn đề về khái niệm
1. Bối cảnh
Giai đoạn 2024–2026 chứng kiến sự gia tăng mạnh của các biện pháp Phòng vệ thương mại (PVTM) trên toàn cầu, gắn với tình trạng dư thừa năng lực sản xuất trong các ngành thép, hóa chất, vật liệu và sự biến động chính sách thuế quan của các nền kinh tế lớn. Khi biện pháp PVTM nhiều hơn, mức thuế cao hơn, động cơ lẩn tránh cũng lớn hơn. Cho thấy lẩn tránh vẫn là thách thức lớn, trong đó hình thức chuyển tải qua nước thứ ba kèm hoạt động lắp ráp có giá trị gia tăng tối thiểu đang gia tăng. Đáng chú ý, các hoạt động lắp ráp, hoàn thiện được thực hiện cả bên ngoài lẫn bên trong EU nhằm thay đổi mã hàng hoặc hình thức sản phẩm, qua đó nhập khẩu dưới mã CN không chịu thuế.
Đối với Việt Nam, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành chế biến, chế tạo mang lại cơ hội tăng trưởng xuất khẩu, nhưng đồng thời khiến Việt Nam thường xuyên bị nêu tên là “nước thứ ba” trong các cuộc điều tra chống lẩn tránh. Hành vi lợi dụng Việt Nam làm điểm trung chuyển không chỉ gây rủi ro bị áp thuế trên diện rộng mà còn ảnh hưởng đến uy tín của hàng hóa và doanh nghiệp sản xuất chân chính.
2. Phân biệt lẩn tránh biện pháp PVTM, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp
Ba khái niệm này thường được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng khác nhau về bản chất pháp lý, cơ quan có thẩm quyền và hệ quả. Việc phân định rõ có ý nghĩa thực tiễn: lựa chọn đúng công cụ xử lý, xác định đúng cơ quan chủ trì, đồng thời tránh đồng nhất một tín hiệu cảnh báo với kết luận vi phạm.
Bảng 1. Phân biệt các khái niệm cơ bản
Tiêu chí | Lẩn tránh biện pháp PVTM | Gian lận xuất xứ | Chuyển tải bất hợp pháp |
|---|---|---|---|
Bản chất | Thay đổi mô hình thương mại không có lý do kinh tế xác đáng ngoài việc tránh thuế PVTM; hàng hóa có thể vẫn đáp ứng quy tắc xuất xứ của nước thứ ba | Khai báo sai xuất xứ, giả mạo hoặc khai gian chứng từ, C/O để hưởng ưu đãi thuế hoặc né thuế | Hàng chỉ quá cảnh hoặc qua gia công đơn giản ở nước thứ ba rồi khai là xuất xứ nước đó; là phương thức chồng lấn của hai loại hành vi bên |
Căn cứ pháp lý | EU: Điều 13 Quy định (EU) 2016/1036, Điều 23 Quy định (EU) 2016/1037; Hoa Kỳ: Mục 781 Đạo luật Thuế quan 1930; Ca-na-đa: Điều 71–75.7 SIMA. Hiệp định WTO không có quy định riêng | Quy tắc xuất xứ ưu đãi (FTA) và không ưu đãi; pháp luật hải quan (EU: Điều 60 Bộ luật Hải quan Liên minh – UCC) | Pháp luật hải quan, xuất xứ; pháp luật PVTM khi nhằm né thuế PVTM |
Cơ quan xử lý điển hình | Cơ quan điều tra PVTM (DG TRADE, DOC, CBSA) | Hải quan, OLAF, EPPO (EU); CBP (Hoa Kỳ); cơ quan cấp C/O | Phối hợp cơ quan PVTM – hải quan |
Hệ quả | Mở rộng thuế PVTM sang nước thứ ba hoặc sản phẩm biến đổi; có thể truy thu từ ngày đăng ký; miễn trừ cho doanh nghiệp chứng minh không lẩn tránh | Truy thu thuế, xử phạt hành chính hoặc hình sự, từ chối ưu đãi, thu hồi C/O | Áp thuế theo xuất xứ thực, chế tài hải quan; ở Hoa Kỳ có thể chịu thuế bổ sung riêng |
3. Các phương thức lẩn tránh phổ biến và dấu hiệu nhận diện
Thực tiễn điều tra của EU, Hoa Kỳ và Ca-na-đa cho thấy các phương thức lẩn tránh có thể nhóm thành sáu loại chính. Mỗi phương thức để lại “dấu vết” khác nhau trên dữ liệu thương mại, hải quan và doanh nghiệp; đây là cơ sở để thiết kế hệ thống chỉ báo cảnh báo sớm.
Bảng 2. Phương thức lẩn tránh và dấu hiệu cảnh báo
Phương thức | Mô tả | Dấu hiệu cảnh báo trên dữ liệu |
|---|---|---|
Chuyển tải, đổi nhãn qua nước thứ ba | Hàng từ nước bị áp thuế được dỡ, đóng gói lại, khai xuất xứ nước thứ ba | XK từ nước bị áp thuế giảm mạnh, XK cùng mặt hàng từ nước thứ ba tăng đột biến cùng thời điểm; nước thứ ba có NK tương ứng |
Lắp ráp, hoàn thiện tại nước thứ ba | Linh kiện, bán thành phẩm từ nước bị áp thuế được lắp ráp đơn giản | NK linh kiện tăng song song với XK thành phẩm; giá trị gia tăng nội địa thấp; doanh nghiệp mới, có liên kết sở hữu với nhà sản xuất bị áp thuế |
Lắp ráp, hoàn thiện ngay tại nước nhập khẩu | NK bán thành phẩm (mã không chịu thuế) rồi hoàn thiện trong thị trường nhập khẩu | NK bán thành phẩm tăng sau khi áp thuế; doanh nghiệp NK đồng thời là đơn vị hoàn thiện |
Biến đổi nhỏ sản phẩm, đổi mã HS | Thay đổi không đáng kể về đặc tính để chuyển sang mã hàng ngoài phạm vi biện pháp | Mã hàng lân cận tăng đột biến; đơn giá và mục đích sử dụng tương đồng sản phẩm bị áp thuế |
Sản phẩm phát triển sau | Sản phẩm mới có đặc tính, mục đích sử dụng, kênh phân phối tương tự sản phẩm bị áp thuế | Xuất hiện dòng hàng mới với khách hàng, kênh bán trùng lặp |
Tổ chức lại kênh bán hàng | Hàng của nhà sản xuất chịu thuế cao được bán qua doanh nghiệp liên kết hưởng thuế suất thấp | Kim ngạch của doanh nghiệp thuế suất thấp tăng vượt năng lực; kim ngạch của doanh nghiệp thuế suất cao giảm tương ứng |
II. Xu hướng chung: từ xử lý vụ việc sang quản lý rủi ro
Điểm chung trong mô hình của EU, Hoa Kỳ, Ca-na-đa và Úc là quá trình quản lý được tổ chức thành một chu trình khép kín gồm bảy bước: theo dõi dòng thương mại → phát hiện dấu hiệu bất thường → phân tích, đánh giá rủi ro → thu thập thông tin, xác minh → điều tra → áp dụng hoặc mở rộng biện pháp → theo dõi sau xử lý. Kết quả của bước cuối cùng lại trở thành dữ liệu đầu vào cho bước đầu tiên.
Nếu cơ quan quản lý chỉ hành động khi đã nhận được đơn yêu cầu hoặc khi vụ việc đã phát sinh, khả năng phòng ngừa sẽ rất hạn chế. Ngược lại, khi dữ liệu được theo dõi liên tục, cơ quan quản lý có thể sớm nhận diện các thay đổi như: xuất khẩu từ nước bị áp dụng biện pháp giảm mạnh trong khi xuất khẩu cùng sản phẩm từ nước thứ ba tăng đột biến; nhập khẩu linh kiện tăng nhanh song song với xuất khẩu thành phẩm; giá xuất khẩu biến động bất thường; doanh nghiệp mới thành lập có kim ngạch lớn không tương xứng với năng lực sản xuất; hoặc tuyến vận chuyển, thị trường trung gian thay đổi.
Tuy nhiên, những thay đổi này tự thân chưa chứng minh được hành vi lẩn tránh. Sự gia tăng xuất khẩu từ nước thứ ba có thể phản ánh quá trình dịch chuyển đầu tư hợp pháp, mở rộng năng lực sản xuất hoặc thay đổi nhu cầu thị trường. Vì vậy, nguyên tắc xuyên suốt trong kinh nghiệm quốc tế là tín hiệu cảnh báo chỉ là căn cứ để lựa chọn đối tượng cần xác minh, không phải là kết luận vi phạm.
III. Kinh nghiệm của các nền kinh tế
1. Liên minh châu Âu: tiêu chí định lượng rõ ràng và mạng lưới thực thi đa tầng
a) Khung pháp lý
Cơ sở pháp lý là Điều 13 Quy định (EU) 2016/1036 về chống bán phá giá và Điều 23 Quy định (EU) 2016/1037 về chống trợ cấp. Để kết luận có lẩn tránh, Ủy ban châu Âu phải chứng minh: (i) có sự thay đổi trong mô hình thương mại; (ii) sự thay đổi đó không có lý do hay căn cứ kinh tế xác đáng nào khác ngoài việc tránh thuế; (iii) tác dụng khắc phục của biện pháp bị suy giảm và có bằng chứng về bán phá giá hoặc trợ cấp.
Đối với hoạt động lắp ráp, EU áp dụng tiêu chí định lượng cụ thể: lẩn tránh được xác định khi linh kiện có xuất xứ từ nước bị áp dụng biện pháp chiếm từ 60% trở lên tổng giá trị linh kiện của sản phẩm lắp ráp, đồng thời giá trị gia tăng trong quá trình lắp ráp thấp hơn 25% chi phí sản xuất. Cuộc điều tra phải kết thúc trong 9 tháng; hàng nhập khẩu được đăng ký kể từ khi khởi xướng để có thể thu thuế hồi tố, và nhà sản xuất chân chính tại nước thứ ba có thể được miễn trừ nếu chứng minh không liên quan đến hành vi lẩn tránh.
b) Mạng lưới thực thi
Thực thi tại EU dựa trên sự phối hợp giữa Tổng vụ Thương mại (DG TRADE), Tổng vụ Thuế và Liên minh Hải quan (DG TAXUD), Tổng vụ Ngân sách (DG BUDG), Văn phòng Chống gian lận châu Âu (OLAF), Viện Công tố châu Âu (EPPO) và hải quan các quốc gia thành viên. Khi nhận được thông tin về dấu hiệu bất thường, Ủy ban chuyển cho OLAF; các cảnh báo rủi ro có mục tiêu được phát hành qua hệ thống quản lý rủi ro hải quan chung tới hải quan và cơ quan thực thi pháp luật của các nước thành viên. Các biện pháp mới được tích hợp kịp thời vào biểu thuế tích hợp TARIC để áp dụng thống nhất trên toàn khối.
c) Từ giám sát chuyển hướng thương mại đến "phong vũ biểu nhập khẩu"
Ngày 7/4/2025, Chủ tịch Ủy ban châu Âu thành lập Lực lượng đặc nhiệm giám sát nhập khẩu nhằm phát hiện hàng hóa chuyển hướng vào EU do thuế quan cao ở các thị trường khác. Công cụ phân tích tự động theo dõi hằng tháng ở cấp mã CN 8 số với dữ liệu từ hệ thống giám sát hải quan, đối với hàng nhập khẩu từ mọi nguồn. Đến năm 2026, khi mối lo ngại của ngành sản xuất chuyển sang áp lực nhập khẩu kéo dài do dư thừa năng lực, Ủy ban đã cấu hình lại công cụ thành Import Barometer (phong vũ biểu nhập khẩu), sử dụng dữ liệu Eurostat và cập nhật theo quý.
Một mã hàng CN 8 số được đưa vào danh sách kết quả khi đáp ứng đồng thời năm tiêu chí: (1) có sản xuất tại EU ở cấp ngành; (2) giá trị nhập khẩu hằng năm tối thiểu 50 triệu EUR; (3) khối lượng nhập khẩu tăng ít nhất 5,2% so với năm trước; (4) khối lượng tăng ít nhất 5,2% so với cùng kỳ hai năm trước; (5) giá nhập khẩu giảm so với năm trước. Ngưỡng 5,2% tương ứng với mức tăng trung vị của khối lượng nhập khẩu giai đoạn 2023–2025.
Ủy ban châu Âu khẳng định danh sách này không phải danh mục sản phẩm sẽ bị áp dụng biện pháp. Để khởi xướng điều tra, ngành sản xuất phải cung cấp dữ liệu chứng minh thiệt hại; kết quả phân tích dữ liệu chỉ là công cụ sàng lọc, được kết hợp với thông tin từ doanh nghiệp, hiệp hội, quốc gia thành viên và chuyên gia.
2. Hoa Kỳ: cơ chế hai tầng và chế tài mạnh tại biên giới
a) Tầng điều tra: Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC)
DOC điều tra lẩn tránh theo Mục 781 Đạo luật Thuế quan năm 1930 và Quy định 19 CFR 351.226 (sửa đổi năm 2021). Bốn hình thức được điều chỉnh gồm: hoàn thiện hoặc lắp ráp tại Hoa Kỳ; hoàn thiện hoặc lắp ráp tại nước thứ ba từ linh kiện của nước bị áp dụng biện pháp; thay đổi nhỏ về sản phẩm; và sản phẩm phát triển sau khi biện pháp được áp dụng. DOC có thể tự khởi xướng hoặc khởi xướng theo yêu cầu; hồ sơ yêu cầu phải nêu chi tiết sản phẩm, nước sản xuất, nước xuất khẩu, xuất xứ khai báo, mã HS và dữ liệu xuất nhập khẩu liên quan. Theo quy định năm 2021, kết luận sơ bộ được ban hành trong 150 ngày và kết luận cuối cùng trong 300 ngày kể từ khi khởi xướng, có thể gia hạn tới 365 ngày. DOC cũng thường áp dụng chế độ chứng nhận, theo đó nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu phải xác nhận hàng hóa không sử dụng nguyên liệu, linh kiện từ nước bị áp dụng biện pháp.
b) Tầng thực thi: Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới (CBP) và cơ chế EAPA
Đạo luật Thực thi và Bảo vệ (EAPA) năm 2015 cho phép CBP điều tra trường hợp hàng hóa được nhập khẩu thông qua khai báo sai hoặc thiếu sót trọng yếu làm giảm hoặc né tránh thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp. CBP quyết định khởi xướng trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận cáo buộc, áp dụng biện pháp tạm thời trong vòng 90 ngày nếu có "nghi ngờ hợp lý", và ban hành kết luận trong 300 ngày (có thể gia hạn thêm 60 ngày với vụ việc phức tạp). Các biện pháp tạm thời gồm: yêu cầu nộp đầy đủ chứng từ và thuế trước khi giải phóng hàng; tạm dừng hoặc gia hạn việc thanh khoản t
c) Chuyển tải trong chính sách thuế quan 2025–2026
Theo Sắc lệnh hành pháp 14326 ngày 31/7/2025, hàng hóa bị CBP xác định là chuyển tải nhằm né thuế phải chịu thuế bổ sung 40% thay cho mức thuế đối ứng của nước xuất xứ, và không được giảm nhẹ. Sau phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tháng 2/2026 liên quan đến thẩm quyền áp thuế theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA), cơ sở pháp lý của các mức thuế đã được điều chỉnh; tuy nhiên, theo các nguồn tư vấn thương mại, chế tài 40% đối với hàng chuyển tải tiếp tục được duy trì. Do CBP chưa công bố tiêu chí chi tiết về "chuyển đổi cơ bản" trong bối cảnh này, hàng hóa sử dụng tỷ trọng lớn đầu vào nhập khẩu và chỉ trải qua công đoạn lắp ráp cuối cùng tại Việt Nam là nhóm có rủi ro cao nhất. Đây là nội dung đang thay đổi nhanh và cần được theo dõi thường xuyên.
3. Ca-na-đa: quy trình minh bạch, đánh giá tổng thể
Cơ chế chống lẩn tránh của Ca-na-đa được quy định trong Đạo luật Các biện pháp nhập khẩu đặc biệt (SIMA) và do Cơ quan Dịch vụ Biên giới Ca-na-đa (CBSA) thực hiện. Điều tra có thể được khởi xướng theo đơn của bên liên quan hoặc do CBSA tự khởi xướng. CBSA phải quyết định có khởi xướng hay không trong vòng 45 ngày kể từ khi nhận đơn; sau khi khởi xướng, kết luận thường được ban hành trong 180 ngày, có thể kéo dài tới 240 ngày với vụ việc phức tạp. Trước khi kết luận, CBSA công bố Báo cáo các sự kiện thiết yếu (SEF) để các bên góp ý.
Đặc điểm nổi bật là CBSA đánh giá tổng thể nhiều yếu tố: thay đổi mô hình thương mại; khối lượng nhập khẩu; khối lượng linh kiện từ nước bị áp dụng biện pháp; thay đổi hoạt động sản xuất, lắp ráp; chi phí; thời điểm bắt đầu hoặc mở rộng hoạt động; bán hàng sang thị trường khác; thay đổi nhu cầu, công nghệ; và các lý do kinh tế không liên quan đến thuế. Không yếu tố đơn lẻ nào đủ để chứng minh hoặc bác bỏ lẩn tránh, nhưng mọi điều kiện pháp lý bắt buộc phải được đáp ứng trước khi kết luận.
4. Úc: danh mục hình thức lẩn tránh cụ thể và cải cách thể chế
Úc quy định các hình thức lẩn tránh tại mục 269ZDBB, Phần XVB Đạo luật Hải quan năm 1901, gồm: lắp ráp linh kiện tại Úc; lắp ráp linh kiện tại nước thứ ba; xuất khẩu qua một hoặc nhiều nước thứ ba; sắp xếp để hàng hóa được xuất khẩu qua nhà xuất khẩu có mức thuế thấp hơn; hấp thụ thuế (tránh tác dụng dự kiến của thuế); và thay đổi nhỏ về sản phẩm. Cách liệt kê cụ thể giúp tăng tính dự đoán cho cả ngành sản xuất trong nước và nhà xuất khẩu.
Các vụ việc gần đây cho thấy Ma-lai-xi-a là địa bàn thường bị xem xét. Năm 2025, cơ quan điều tra của Úc điều tra màng lót bê tông màu xám xuất khẩu từ Ma-lai-xi-a theo hình thức thay đổi nhỏ về sản phẩm; ngày 07/01/2026, khởi xướng điều tra hóa chất 2,4-D xuất khẩu từ Ma-lai-xi-a nhằm xác định hàng hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc hay không, với giai đoạn điều tra từ 2019 đến hết năm 2025.
Về thể chế, Ủy ban Chống bán phá giá đã được đổi tên thành Ủy ban Phòng vệ thương mại Úc và tiếp nhận thêm chức năng điều tra tự vệ, hợp nhất toàn bộ công cụ PVTM vào một cơ quan. Tuyên bố ý định công bố tháng 11/2025, với nguồn kinh phí bổ sung 5 triệu AUD, cam kết tăng cường giám sát dữ liệu thương mại toàn cầu để phát hiện nguy cơ chuyển hướng thương mại và lẩn tránh, đồng thời mở rộng phối hợp với Lực lượng Biên phòng Úc và các cơ quan liên quan.
5. Nhật Bản: nhấn mạnh tính tuân thủ quy tắc thương mại quốc tế
Nhật Bản tiếp cận vấn đề lẩn tránh chủ yếu từ góc độ tính phù hợp với quy tắc WTO. Báo cáo về việc tuân thủ các hiệp định thương mại của các đối tác lớn (ấn bản thứ 35, công bố ngày 12/6/2026) của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) tiếp tục dành chuyên mục phân tích về "lẩn tránh" và quy tắc thương mại, theo dõi các thảo luận tại WTO và việc các thành viên mở rộng phạm vi chống lẩn tránh.
Quan điểm này bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tế: năm 1990, theo khiếu nại của Nhật Bản, Ban hội thẩm GATT kết luận việc Cộng đồng châu Âu áp thuế chống lẩn tránh đối với sản phẩm lắp ráp trong lãnh thổ châu Âu từ linh kiện Nhật Bản là không phù hợp với nghĩa vụ đối xử quốc gia. Bài học là biện pháp chống lẩn tránh phải có căn cứ pháp lý vững chắc và tương xứng; nếu bị mở rộng quá mức, chính biện pháp này có thể trở thành rào cản thương mại không chính đáng.
6. So sánh tổng hợp
Bảng 3. So sánh cơ chế chống lẩn tránh của một số nền kinh tế
Tiêu chí | EU | Hoa Kỳ | Ca-na-đa | Úc |
|---|---|---|---|---|
Cơ sở pháp lý | Điều 13 QĐ 2016/1036; Điều 23 QĐ 2016/1037 | Mục 781 Đạo luật Thuế quan 1930; 19 CFR 351.226 | Đạo luật SIMA | Mục 269ZDBB Đạo luật Hải quan 1901 |
Khởi xướng | Theo đơn hoặc tự khởi xướng | Theo đơn hoặc DOC tự khởi xướng | Theo đơn hoặc CBSA tự khởi xướng | Theo đơn của ngành hoặc Bộ trưởng |
Thời hạn | 9 tháng | 150 ngày (sơ bộ); 300–365 ngày (cuối cùng) | 180 ngày, tối đa 240 ngày | Theo lịch từng vụ, có công bố SEF |
Tiêu chí | Ngưỡng định lượng 60% / 25% đối với lắp ráp | Đánh giá giá trị gia tăng, quy mô, mô hình thương mại | Đánh giá tổng thể nhiều yếu tố | Danh mục hình thức cụ thể |
Xử lý khai sai, gian lận | OLAF, EPPO, hải quan thành viên | CBP theo EAPA; thuế 40% với hàng chuyển tải | CBSA | Lực lượng Biên phòng Úc |
Điểm đáng học | Đăng ký hàng nhập khẩu; giám sát dữ liệu CN8 | Liên kết hai tầng; biện pháp tạm thời | Minh bạch; không dựa vào chỉ báo đơn lẻ | Hợp nhất thể chế; liệt kê rõ hình thức |
IV. Bài học và khuyến nghị đối với việt nam
1. Phân tầng rõ chức năng cảnh báo, xác minh và kết luận
Hệ thống cảnh báo sớm cần được xác định là công cụ quản lý rủi ro, không phải công cụ kết luận vi phạm. Có thể thiết kế theo ba mức: mức theo dõi (chỉ báo bất thường, tiếp tục giám sát dữ liệu); mức xác minh (nhiều chỉ báo cùng xuất hiện, yêu cầu giải trình, kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra tại chỗ); và mức chuyển xử lý (có bằng chứng, chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật hải quan, xuất xứ hoặc PVTM). Việc phân tầng vừa nâng cao độ chính xác, vừa tránh gây thiệt hại cho doanh nghiệp làm ăn chân chính và bảo vệ uy tín của hàng hóa Việt Nam.
2. Xây dựng bộ chỉ báo đa chiều và nền tảng dữ liệu tích hợp
Kinh nghiệm của EU cho thấy phân tích ở cấp mã hàng chi tiết và kết hợp nhiều tiêu chí đồng thời giúp phát hiện những biến động bị che khuất ở cấp tổng hợp. Việt Nam nên từng bước xây dựng bộ chỉ báo theo sáu nhóm dưới đây và xác định rõ ngưỡng kích hoạt cho từng nhóm.
Bảng 4. Bộ chỉ báo đề xuất
Nhóm chỉ báo | Ví dụ chỉ báo | Nguồn dữ liệu | Đầu mối |
|---|---|---|---|
Biến động thương mại | Xuất khẩu tăng đột biến sang thị trường vừa áp dụng biện pháp với nước thứ ba; thị phần tăng nhanh | Hải quan; số liệu nhập khẩu của đối tác | Cục Phòng vệ thương mại |
Nguyên liệu – thành phẩm | Nhập khẩu linh kiện từ nước bị áp dụng biện pháp tăng đồng thời với xuất khẩu thành phẩm | Hải quan | Cục PVTM, Cục Hải quan |
Giá | Đơn giá xuất khẩu thấp bất thường hoặc sát giá hàng của nước bị áp dụng biện pháp | Hải quan; dữ liệu đối tác | Cục PVTM |
Doanh nghiệp | Doanh nghiệp mới thành lập, vốn nhỏ nhưng kim ngạch lớn; thay đổi chủ sở hữu, ngành nghề | Đăng ký doanh nghiệp, đầu tư | Bộ Tài chính, địa phương |
Năng lực sản xuất | Sản lượng xuất khẩu vượt công suất, lao động, tiêu thụ điện năng | Thuế, bảo hiểm xã hội, điện lực | Sở Công Thương |
Xuất xứ | Tần suất đề nghị cấp C/O, thay đổi tiêu chí xuất xứ khai báo, kết quả xác minh | Hệ thống eCoSys | Cục Xuất nhập khẩu |
Bộ chỉ báo cần được vận hành trên một nền tảng dữ liệu dùng chung, cập nhật định kỳ theo quý, và gắn với danh sách cảnh báo hiện hành để nâng cấp danh sách từ cấp mặt hàng lên cấp doanh nghiệp và tuyến thương mại.
3. Giám sát toàn bộ chuỗi cung ứng và năng lực sản xuất thực tế
Các vụ EAPA 7509 của Hoa Kỳ và khung gầm container của Ca-na-đa cho thấy năng lực sản xuất thực tế là bằng chứng quyết định: trong vụ thứ nhất, việc không tìm thấy hoạt động sản xuất dẫn tới kết luận né thuế; trong vụ thứ hai, chứng minh được hoạt động sản xuất thực chất dẫn tới kết luận không lẩn tránh. Vì vậy, công tác phòng ngừa cần chuyển từ chỉ theo dõi hàng xuất khẩu sang theo dõi toàn bộ chuỗi: nước cung ứng nguyên liệu, doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu, dòng nguyên liệu và dòng thành phẩm. Việc đối chiếu công suất, máy móc, lao động, nguyên liệu đầu vào và sản lượng với lượng hàng xuất khẩu giúp phân biệt tăng trưởng do mở rộng sản xuất với tăng trưởng có dấu hiệu bất thường. Cần đặc biệt chú ý các trường hợp thay đổi nhanh nguồn cung hoặc tuyến thương mại ngay sau khi một thị trường lớn áp dụng biện pháp PVTM.
4. Tăng cường phối hợp liên ngành và chia sẻ dữ liệu
Học tập mô hình hai tầng của Hoa Kỳ và mạng lưới cảnh báo rủi ro của EU, cần hình thành cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Bộ Công Thương (Cục Phòng vệ thương mại, Cục Xuất nhập khẩu), Bộ Tài chính (Cục Hải quan, cơ quan thuế, cơ quan quản lý đầu tư và đăng ký doanh nghiệp), lực lượng quản lý thị trường và chính quyền địa phương. Trọng tâm là xây dựng quy chế chia sẻ thông tin phục vụ nhận diện rủi ro, quy trình phát hành cảnh báo rủi ro có mục tiêu tới hải quan cửa khẩu và cơ quan cấp C/O, và quy trình phản hồi kết quả kiểm tra để cập nhật bộ chỉ báo. Việc kết nối dữ liệu phải dựa trên chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, bảo đảm đúng mục đích và hạn chế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp trùng lặp thông tin.
5. Hoàn thiện pháp luật về xuất xứ và nâng cao tính
Cần đẩy nhanh việc ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 31/2018/NĐ-CP, trong đó quy định rõ các công đoạn gia công, chế biến đơn giản không làm thay đổi xuất xứ; tăng cường hậu kiểm đối với C/O và chứng từ tự chứng nhận; quy định nghĩa vụ lưu trữ hồ sơ định mức nguyên liệu, chi phí sản xuất; và nâng mức chế tài đối với gian lận xuất xứ. Có thể nghiên cứu cơ chế tương tự biện pháp tạm thời của Hoa Kỳ, như tạm dừng cấp C/O hoặc áp dụng kiểm tra chặt chẽ đối với doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao trong thời gian xác minh.
6. Chủ động hợp tác với cơ quan điều tra nước ngoài và hỗ trợ doanh nghiệp
Khi bị điều tra, sự hợp tác đầy đủ của doanh nghiệp và sự đồng hành của cơ quan quản lý là yếu tố quyết định kết quả. Cơ quan quản lý cần tiếp tục phối hợp với cơ quan điều tra nước ngoài trong xác minh tại chỗ, cung cấp thông tin chính thức khi được yêu cầu, và chủ động trao đổi để tránh việc áp dụng biện pháp trên phạm vi toàn quốc thay vì theo từng doanh nghiệp. Về phía doanh nghiệp, cần theo dõi danh sách cảnh báo sớm, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, lưu trữ đầy đủ hóa đơn, định mức nguyên liệu, chi phí và hồ sơ sản xuất theo chuẩn mực có thể kiểm toán, đồng thời từng bước nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu.
7. Nâng cao năng lực điều tra chống lẩn tránh với hàng nhập khẩu vào Việt Nam
Với tư cách nước nhập khẩu, Việt Nam có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế đăng ký hàng nhập khẩu ngay khi khởi xướng điều tra như EU để bảo đảm khả năng thu thuế hồi tố, xây dựng hướng dẫn về tiêu chí định lượng đối với hoạt động lắp ráp, và duy trì cơ chế miễn trừ cho nhà sản xuất chân chính. Đồng thời, bài học từ Nhật Bản cho thấy mọi biện pháp chống lẩn tránh phải có căn cứ pháp lý vững chắc, tương xứng và phù hợp với cam kết WTO, FTA để hạn chế nguy cơ tranh chấp.
V. Kết luận
Chống lẩn tránh biện pháp PVTM và gian lận xuất xứ đang chuyển từ hoạt động xử lý vụ việc sang một chức năng quản lý rủi ro thường xuyên, dựa trên dữ liệu, có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan điều tra PVTM và cơ quan hải quan. Đối với Việt Nam, mục tiêu kép là ngăn chặn việc lợi dụng xuất xứ Việt Nam để né thuế, đồng thời bảo vệ uy tín và quyền lợi của doanh nghiệp sản xuất thực chất. Để đạt mục tiêu đó, trọng tâm trong thời gian tới là hoàn thiện khung pháp lý về xuất xứ, xây dựng nền tảng dữ liệu tích hợp với bộ chỉ báo đa chiều, nâng cấp danh sách cảnh báo tới cấp doanh nghiệp và tuyến thương mại, và tăng cường năng lực xác minh năng lực sản xuất thực tế. Quan trọng hơn cả, mọi cơ chế cảnh báo phải được vận hành trên nguyên tắc tín hiệu bất thường là căn cứ để xác minh, không phải là kết luận vi phạm.
Ngày đăng: