NHẬN DIỆN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO BỊ ĐIỀU TRA CHỐNG LẨN TRÁNH BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ THÉP VIỆT NAM
Ngày đăng:
1. Bối cảnh
Ngành thép có vị trí đặc biệt trong hệ thống phòng vệ thương mại (PVTM) toàn cầu. Tình trạng dư thừa công suất ở quy mô thế giới, mức độ tiêu chuẩn hóa tương đối cao của nhiều sản phẩm thép, cạnh tranh mạnh về giá và sự phân chia quá trình sản xuất thành nhiều công đoạn tại nhiều quốc gia khiến thép thường xuyên trở thành đối tượng của các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ và chống lẩn tránh. Đối với doanh nghiệp, PVTM vì vậy mà trở thành một yếu tố phải tính đến trong tổ chức sản xuất, lựa chọn nguồn cung và xây dựng thị trường xuất khẩu.
Xu hướng này đặc biệt rõ đối với Việt Nam. Theo thống kê của Cục PVTM, trong giai đoạn 2004 - 2025, cơ quan điều tra nước ngoài đã khởi xướng hơn 90 vụ việc PVTM đối với thép xuất khẩu Việt Nam, tại hầu hết các thị trường xuất khẩu trọng điểm như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), ASEAN.... Cùng thời gian đó, năng lực sản xuất của ngành tiếp tục mở rộng. Năm 2025, sản lượng thép thô đạt 24,7 triệu tấn, tăng 12% so với năm trước; tiêu thụ đạt 24,1 triệu tấn, tăng 12,9%; xuất khẩu đạt 3,15 triệu tấn, tăng 12,8%; công suất toàn ngành vượt 30 triệu tấn thép thô và hơn 40 triệu tấn thép thành phẩm mỗi năm.
Bước sang năm 2026, sự mở rộng quy mô sản xuất của ngành thép Việt Nam tiếp tục diễn ra mạnh trong nửa đầu năm. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, tính chung 6 tháng đầu năm, sản lượng thép thô đạt khoảng 15,18 triệu tấn, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm 2025; tiêu thụ thép thô đạt khoảng 14,81 triệu tấn, tăng 25,5%. Sản xuất thép thành phẩm các loại đạt khoảng 18,21 triệu tấn, tăng 15,1%, trong khi bán hàng đạt gần 17,95 triệu tấn, tăng 14,2%. Trái với đà tăng mạnh của sản xuất và tiêu thụ trong nước, xuất khẩu thép thành phẩm ước đạt khoảng 5,5 triệu tấn, gần tương đương cùng kỳ năm trước, với kim ngạch khoảng 3,7 tỷ USD. Diễn biến này cho thấy tăng trưởng của ngành trong nửa đầu năm 2026 chủ yếu được hỗ trợ bởi sự phục hồi của nhu cầu trong nước, trong khi xuất khẩu tiếp tục chịu sức ép từ môi trường thương mại quốc tế và sự gia tăng của các biện pháp phòng vệ thương mại.
Có thể thấy, rủi ro không còn chỉ xuất phát từ việc chính sản phẩm của Việt Nam bị cáo buộc bán phá giá hoặc được trợ cấp. Trong một số trường hợp, vấn đề có thể bắt nguồn từ việc một sản phẩm hoặc nguyên liệu của nước thứ ba đang chịu biện pháp PVTM được đưa sang Việt Nam để tiếp tục sản xuất, sau đó sản phẩm hoàn thiện được xuất khẩu sang thị trường đang áp dụng biện pháp. Khi đó, đối tượng xem xét có thể không dừng ở giá xuất khẩu hay xuất xứ khai báo của thành phẩm, mà mở rộng tới nguồn nguyên liệu, công đoạn sản xuất được thực hiện tại Việt Nam, mức độ đầu tư và chế biến, giá trị được tạo thêm, quan hệ giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng và sự thay đổi của dòng thương mại trước và sau khi biện pháp gốc được áp dụng.
2. Đặc điểm chuỗi giá trị thép và cơ chế hình thành rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM
Chuỗi giá trị thép có đặc điểm là một sản phẩm cuối cùng thường được hình thành qua nhiều công đoạn sản xuất nối tiếp nhau. Ở dạng khái quát, chuỗi giá trị thép có thể được mô tả như sau: Nguyên liệu → thép thô/phôi → Thép cuộn cán nóng (HRC) → Thép cuộn cán nguội (CRC) → tôn mạ/CORE → ống thép hoặc sản phẩm hạ nguồn → xuất khẩu.
Các công đoạn này không nhất thiết được thực hiện tại cùng một doanh nghiệp hoặc cùng một quốc gia. HRC sản xuất tại nước A có thể được xuất khẩu sang nước B để cán nguội; CRC tiếp tục được mạ hoặc gia công thành sản phẩm khác; thành phẩm sau đó được xuất khẩu sang nước C. Đây là hoạt động bình thường của chuỗi sản xuất quốc tế. Tuy nhiên, khi một mắt xích trong chuỗi đang chịu biện pháp PVTM, sự phân tách các công đoạn sản xuất giữa nhiều quốc gia có thể trở thành vấn đề cần xem xét dưới góc độ chống lẩn tránh.
Tuy việc sử dụng nguyên liệu nhập khẩu, kể cả nguyên liệu từ một nước đang chịu biện pháp PVTM, không tự thân chứng minh hành vi lẩn tránh. Tương tự, việc một doanh nghiệp nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam hoặc xuất khẩu của Việt Nam tăng sau khi một nước khác bị áp thuế cũng không đủ để tạo thành kết luận pháp lý. Các yếu tố này trước hết chỉ có thể là những tín hiệu khiến cơ quan điều tra xem xét sâu hơn.
Do đó, thay vì nhìn quan hệ thương mại theo mô hình tuyến tính: Việt Nam → thị trường nhập khẩu, phân tích chống lẩn tránh cần đặt hàng hóa trong một chuỗi rộng hơn: Biện pháp PVTM gốc → nước/sản phẩm đang chịu biện pháp → nguồn nguyên liệu → công đoạn sản xuất tại Việt Nam → mức độ chuyển đổi → sản phẩm hạ nguồn → xuất khẩu vào thị trường áp dụng biện pháp. Chính cấu trúc đa tầng này làm cho ngành thép có mức độ nhạy cảm cao. Chuỗi giá trị thép tạo điều kiện cho các công đoạn sản xuất được bố trí tại nhiều quốc gia, qua đó làm xuất hiện nguy cơ các cuộc điều tra chống lẩn tránh có tính dây chuyền từ nguyên liệu tới sản phẩm hạ nguồn.
Một vấn đề quan trọng khác là không nên đồng nhất quy tắc xuất xứ với đánh giá chống lẩn tránh. Thực tiễn Hoa Kỳ cho thấy rõ sự khác biệt này. Trong các quyết định liên quan đến thép cac-bon chống ăn mòn (CORE) hoàn thiện tại Việt Nam từ một số cấu phần nhập khẩu của nước ngoài, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã xem xét các yếu tố như mức độ đầu tư, nghiên cứu và phát triển, bản chất quá trình sản xuất, cơ sở sản xuất và phần giá trị của hoạt động chế biến. Đáng chú ý, Hoa Kỳ có quy định về các hành vi liên quan đến việc thay đổi nhỏ về hình dạng hoặc kiểu dáng một sản phẩm nhằm mục đích lẩn tránh thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp. Quy định này cho phép cơ quan có thẩm quyền xác định liệu có cần áp biện pháp chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp với hàng hoá được thay đổi nhằm mục đích lẩn tránh thuế hay không.
3. Thực tiễn cơ chế hình thành rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh trong chuỗi giá trị thép
Rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh trong ngành thép có thể hình thành và lan tỏa từ sản phẩm thượng nguồn xuống sản phẩm hạ nguồn thông qua quan hệ đầu vào - đầu ra. Đây là lý do việc chỉ theo dõi sản phẩm xuất khẩu cuối cùng có thể không đủ để nhận diện rủi ro.
Một mắt xích điển hình là HRC - CRC. HRC là nguyên liệu quan trọng của quá trình cán nguội và nhiều sản phẩm hạ nguồn. Khi HRC hoặc một sản phẩm thép thượng nguồn của một nước bị áp dụng biện pháp PVTM, việc nguyên liệu này được chuyển sang nước thứ ba để tiếp tục gia công có thể được cơ quan điều tra quan tâm nếu sản phẩm sau gia công được xuất khẩu trở lại thị trường áp dụng biện pháp. Khi đó, vấn đề không đơn thuần là HRC có nguồn gốc từ đâu mà còn là công đoạn cán nguội tại nước thứ ba được thực hiện như thế nào, sử dụng dây chuyền và nguồn lực gì, tạo ra mức độ chuyển đổi và giá trị ra sao.
Mắt xích thứ hai là HRC/CRC - CORE hoặc tôn mạ. Đây là trường hợp cần được chú ý đối với Việt Nam. Theo dữ liệu ngày 16/5/2018, DOC đã đưa ra kết luận chống lẩn tránh đối với CORE sản xuất tại Việt Nam sử dụng HRS (thép cán nóng) hoặc CRS (thép cán nguội) được sản xuất tại Trung Quốc, trong khuôn khổ các lệnh áp thuế chống bán phá giá/chống trợ cấp đối với CORE Trung Quốc.
Trường hợp này cho thấy cơ quan điều tra có thể đi ngược từ sản phẩm CORE nhập khẩu vào Hoa Kỳ tới các cấu phần được sử dụng để sản xuất tại Việt Nam. Quan trọng hơn, đây không phải hiện tượng chỉ xảy ra đối với Việt Nam. Năm 2020, DOC tiếp tục đưa ra kết luận khẳng định đối với CORE hoàn thiện tại Costa Rica và UAE sử dụng cấu phần từ Trung Quốc, trong khi kết luận Guatemala không lẩn tránh thuế. Sự khác biệt giữa các kết luận cho thấy không thể suy luận rằng chỉ cần sử dụng nguyên liệu từ nước chịu biện pháp thì đương nhiên cấu thành lẩn tránh; kết luận phụ thuộc vào hồ sơ và các tiêu chí pháp lý của từng vụ việc.
Mắt xích thứ ba là HRC/HRS - ống thép. Ngày 04/8/2022, Hoa Kỳ khởi xướng các cuộc điều tra chống lẩn tránh liên quan tới một số loại ống thép hoàn thiện tại Việt Nam từ HRS có nguồn gốc tại các nước/vùng lãnh thổ đang bị áp thuế PVTM tương ứng. Trong trường hợp này, vấn đề được đặt ra không chỉ ở thành phẩm ống thép mà còn phải truy ngược về HRS/HRC, nhà cung cấp và công đoạn sản xuất được thực hiện tại Việt Nam. Ngoài ra, tháng 5/2020 DOC đã khởi xướng điều tra đối với thép không gỉ dạng tấm và dải hoàn thiện tại Việt Nam sử dụng sản phẩm thép cán phẳng không gỉ của Trung Quốc. Điều đáng chú ý là DOC nêu rõ cuộc điều tra được khởi xướng trên cơ sở hoạt động giám sát các mô hình thương mại của cơ quan này. Một biện pháp áp dụng đối với sản phẩm thượng nguồn có thể tạo ra rủi ro pháp lý cho sản phẩm hạ nguồn nếu giữa chúng tồn tại quan hệ nguyên liệu - sản xuất - xuất khẩu mà cơ quan điều tra cho rằng cần được xem xét.
4. Nhận diện rủi ro cần theo dõi trong chuỗi giá trị thép Việt Nam
Kết quả một số khảo sát của Cục PVTM những năm gần đây đã cho thấy khoảng cách giữa nhận biết rủi ro và năng lực quản trị rủi ro của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể biết đến cảnh báo PVTM nhưng chưa có bộ máy, dữ liệu và quy trình để biến cảnh báo thành hành động phòng ngừa. Đối với chống lẩn tránh, khoảng cách này còn đáng quan tâm hơn bởi việc tái dựng nguồn nguyên liệu và lịch sử sản xuất sau nhiều năm có thể rất khó nếu dữ liệu không được chuẩn hóa từ trước.
Từ cấu trúc chuỗi giá trị và thực tiễn các vụ việc, có thể sàng lọc một số rủi ro trong chuỗi giá trị thép nhằm xác định những mắt xích cần được theo dõi và chuẩn bị dữ liệu. Từ đó, giúp doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhận diện vị trí có mức độ tiếp xúc cao hơn với rủi ro điều tra.
Bảng 1. Rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM trong chuỗi giá trị thép
Mắt xích chuỗi giá trị | Hoạt động tại Việt Nam | Nội dung cần theo dõi |
|---|---|---|
Phôi/HRC/HRS nhập khẩu | Nhập nguyên liệu | Nước xuất xứ, nhà sản xuất, nhà cung cấp, biện pháp PVTM liên quan |
HRC → CRC | Cán nguội | Công nghệ, đầu tư, thiết bị, chi phí, quá trình chuyển đổi |
HRC/CRC → CORE/tôn mạ | Mạ và hoàn thiện | Nguồn gốc bộ phận cấu thành, quy trình sản xuất, giá trị tạo thêm, truy xuất |
HRC/HRS → ống thép | Tạo hình, hàn, hoàn thiện | Nguồn nguyên liệu, mức độ chế biến, cơ sở sản xuất |
Thép trung gian → sản phẩm hạ nguồn | Gia công/chế tạo | Bản chất chuyển đổi, đầu tư và giá trị được tạo ra |
Thành phẩm → thị trường xuất khẩu | Xuất khẩu | Thời điểm, lượng, giá, khách hàng và biến động dòng chảy thương mại |
Nguồn: Tổng hợp
Có thể thấy, trong việc xem xét rủi ro về điều tra chống lẩn tránh, vấn đề cần được quan tâm là biện pháp PVTM gốc. Khi một thị trường áp dụng biện pháp đối với HRC hoặc một sản phẩm thép của nước A, doanh nghiệp Việt Nam sử dụng đầu vào từ nước A chưa mặc nhiên phát sinh hành vi lẩn tránh. Tuy nhiên, nếu sau thời điểm đó xuất hiện đồng thời sự gia tăng đáng kể của nguyên liệu từ A vào Việt Nam, thay đổi về hoạt động sản xuất tại Việt Nam và tăng xuất khẩu sản phẩm hạ nguồn sang chính thị trường đang áp dụng biện pháp, thì chuỗi đó có mức độ cần theo dõi cao hơn. Do đó, có thể khái quát quá trình nhận diện như sau: Biện pháp gốc → thay đổi dòng nguyên liệu → thay đổi hoạt động sản xuất → thay đổi xuất khẩu sản phẩm hạ nguồn → tín hiệu rủi ro → kiểm chứng bằng dữ liệu doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này tránh coi mọi hoạt động sử dụng nguyên liệu nhập khẩu là có nguy cơ. Mặt khác, nó cũng tránh tình trạng chỉ bắt đầu chuẩn bị khi cơ quan nước ngoài đã chính thức khởi xướng điều tra.
5. Từ kiểm soát nguồn nguyên liệu đến năng lực chứng minh của doanh nghiệp
Nếu bảng sàng lọc rủi ro trên giúp xác định nơi cần theo dõi nguy cơ, thì hệ thống dữ liệu doanh nghiệp quyết định khả năng chứng minh khi rủi ro phát sinh. Đối với ngành thép, điểm khởi đầu của hệ thống này là quản trị nguồn nguyên liệu.
Theo cách quản lý truyền thống, bộ phận mua hàng thường tập trung vào giá, chất lượng, tiến độ giao hàng và điều kiện thanh toán. Trong môi trường PVTM hiện nay, cần bổ sung một biến số mới, đó là: mức độ rủi ro PVTM của nguồn cung. Khi một nhà sản xuất hoặc một quốc gia cung cấp HRC, HRS, CRC hay bán thành phẩm đang chịu biện pháp tại thị trường xuất khẩu quan trọng, doanh nghiệp cần biết sản phẩm hạ nguồn nào của mình sử dụng nguyên liệu đó và hồ sơ chứng minh nào phải được duy trì.
Quản lý nguyên liệu vì vậy cần chuyển thành quản lý dòng đời của nguyên liệu, trong đó có Chứng nhận kiểm tra vật liệu Hệ thống tối thiểu phải cho phép nối: Nhà sản xuất → nhà cung cấp → xuất xứ → MTC (Chứng nhận kiểm tra vật liệu)/C/O → lô nguyên liệu → nhập kho → lệnh sản xuất → định mức → công đoạn sản xuất → lô thành phẩm → khách hàng → hóa đơn → tờ khai xuất khẩu. Điểm cốt lõi không nằm ở số lượng chứng từ mà ở khả năng liên kết dữ liệu. C/O hoặc MTC chỉ thực sự hữu ích khi doanh nghiệp có thể xác định chứng từ đó thuộc lô nguyên liệu nào, lô đó được sử dụng cho lệnh sản xuất nào và thành phẩm tương ứng được bán cho khách hàng nào.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể xây dựng ba lớp năng lực chứng minh, cụ thể như sau:
Một là chứng minh nguồn nguyên liệu. Doanh nghiệp cần xác định được nguyên liệu sử dụng cho từng sản phẩm xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà cung cấp, xuất xứ, thời điểm nhập khẩu và hồ sơ thương mại tương ứng. Đối với doanh nghiệp tôn mạ hoặc ống thép, điều này cho phép truy ngược từ thành phẩm về HRC/HRS/CRC đầu vào.
Hai là chứng minh quá trình sản xuất. Doanh nghiệp phải có khả năng thể hiện nguyên liệu đã được xử lý như thế nào tại Việt Nam: dây chuyền và máy móc được sử dụng, công nghệ, lao động, năng lượng, định mức, hao hụt, thời gian sản xuất, chi phí chế biến, đặc tính kỹ thuật trước và sau chế biến và giá trị được tạo thêm. Mục tiêu là có thể tái dựng hoạt động sản xuất bằng dữ liệu chứ không chỉ bằng mô tả.
Ba là chứng minh cơ sở kinh tế thực chất của hoạt động. Hồ sơ doanh nghiệp nên thể hiện lịch sử đầu tư, thời điểm xây dựng nhà máy, quy mô vốn, công suất, thiết bị, lao động, cơ cấu khách hàng, thị trường tiêu thụ và chiến lược kinh doanh. Đây là những dữ liệu có thể hỗ trợ giải thích rằng hoạt động sản xuất tại Việt Nam có nền tảng kinh tế và thương mại thực tế, thay vì chỉ xuất hiện như một khâu trung gian sau khi một nước khác bị áp dụng biện pháp.
6. Chuyển từ quản trị rủi ro ở cấp doanh nghiệp sang quản trị theo chuỗi cung ứng
Đặc điểm của ngành thép khiến khả năng tuân thủ của doanh nghiệp hạ nguồn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng dữ liệu của doanh nghiệp thượng nguồn. Nhà sản xuất ống thép cần dữ liệu HRC/HRS; nhà sản xuất tôn mạ cần thông tin về cấu phần; nhà xuất khẩu thương mại lại phụ thuộc vào hồ sơ của nhà sản xuất. Một mắt xích không duy trì đầy đủ dữ liệu có thể làm suy giảm khả năng chứng minh của các mắt xích tiếp theo. Bên cạnh đó, đặc thù tích hợp dọc của ngành thép khiến rủi ro pháp lý liên quan tới các cáo buộc lẩn tránh hoặc trợ cấp chéo có thể lan từ thượng nguồn như phôi, HRC xuống hạ nguồn như tôn mạ và ống thép.
Điều này đòi hỏi quan hệ giữa nhà cung cấp và khách hàng công nghiệp phải đáp ứng yêu cầu tuân thủ PVTM. Hợp đồng mua HRC, CRC hoặc bán thành phẩm cần tính tới nghĩa vụ cung cấp MTC, chứng nhận xuất xứ và các hồ sơ liên quan; đồng thời cần có cơ chế phối hợp trong trường hợp khách hàng phải giải trình với cơ quan điều tra nước ngoài. Đối với những nguồn cung có mức độ rủi ro cao hơn, khả năng cung cấp và xác minh hồ sơ nên trở thành một tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp bên cạnh giá và chất lượng.
Ở cấp doanh nghiệp, quản trị PVTM cũng cần được thể chế hóa. Từ đó, doanh nghiệp thép cần chuyển từ mô hình xử lý sự cố sang quản trị thường xuyên. Trước hết, PVTM cần được đưa vào quy trình đánh giá nguồn cung. Doanh nghiệp nên duy trì danh mục nguyên liệu và thị trường nhạy cảm, cập nhật khi xuất hiện biện pháp mới đối với HRC, CRC, CORE, thép không gỉ, ống thép hoặc sản phẩm liên quan. Khi một biện pháp mới được áp dụng, cần kiểm tra ngay mức độ phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu liên quan, sản phẩm hạ nguồn sử dụng nguyên liệu đó và thị trường tiêu thụ cuối cùng.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể thực hiện kiểm tra khả năng tái dựng dữ liệu định kỳ. Mắt xích nào không thể truy xuất được cần được xử lý trước khi cơ quan điều tra yêu cầu.
Cuối cùng, đầu mối PVTM cần có kênh báo cáo đủ trực tiếp tới ban lãnh đạo. Đây là điều kiện để doanh nghiệp có thể nhanh chóng huy động nhân sự, dữ liệu, nguồn tài chính và tư vấn pháp lý khi xuất hiện tín hiệu rủi ro. Như vậy, quá trình chuyển đổi cần diễn ra đồng thời ở hai cấp: từ phản ứng sang phòng ngừa ở cấp doanh nghiệp và từ dữ liệu riêng lẻ sang khả năng truy xuất liên kết ở cấp chuỗi cung ứng.
7. Đề xuất xây dựng mô hình quản trị rủi ro bị điều tra chống lẩn tránh theo chuỗi giá trị thép Việt Nam
Từ những phân tích trên, có thể xây dựng mô hình quản trị rủi ro chống lẩn tránh gồm ba tầng liên tiếp: cảnh báo bên ngoài - đánh giá truyền dẫn vào chuỗi giá trị thép - kiểm chứng ở cấp doanh nghiệp. Giá trị của mô hình không nằm ở việc dự đoán doanh nghiệp nào sẽ bị điều tra, mà ở khả năng dịch chuyển thời điểm quản trị rủi ro về trước khi vụ việc phát sinh.
Tầng thứ nhất là cảnh báo rủi ro bên ngoài. Điểm khởi đầu là các biện pháp PVTM tại những thị trường xuất khẩu quan trọng. Đối với mỗi biện pháp, cần xác định sản phẩm, quốc gia và nhà sản xuất đang chịu biện pháp, thời điểm khởi xướng và áp dụng, cũng như vị trí của sản phẩm trong chuỗi giá trị. Nếu biện pháp liên quan tới HRC, chẳng hạn, phạm vi theo dõi không nên dừng ở HRC mà cần mở rộng tới CRC, tôn mạ, ống thép và các sản phẩm sử dụng HRC làm đầu vào.
Cách tiếp cận này có cơ sở từ thực tiễn. DOC đã từng tự khởi xướng các cuộc điều tra chống lẩn tránh CORE trên cơ sở hoạt động theo dõi các mô hình thương mại, cho thấy cảnh báo có thể bắt đầu trước khi có yêu cầu chính thức từ ngành sản xuất nội địa.
Tầng thứ hai là đánh giá khả năng truyền dẫn vào chuỗi Việt Nam. Sau khi một biện pháp gốc xuất hiện, cần kiểm tra Việt Nam có nhập khẩu đáng kể nguyên liệu liên quan từ nước chịu biện pháp hay không; dòng nhập khẩu có thay đổi sau thời điểm điều tra hoặc áp dụng biện pháp hay không; năng lực sản xuất hoặc đầu tư tại Việt Nam có thay đổi đáng kể hay không; và xuất khẩu sản phẩm hạ nguồn sang thị trường áp dụng biện pháp có biến động tương ứng hay không.
Mỗi chỉ báo riêng lẻ chỉ mang tính sàng lọc. Giá trị cảnh báo tăng lên khi nhiều chỉ báo xuất hiện đồng thời và có quan hệ hợp lý trong cùng một chuỗi sản phẩm. Nguyên tắc này giúp tránh đánh đồng thương mại hợp pháp với lẩn tránh, đồng thời vẫn cho phép cơ quan quản lý phát hiện sớm những cấu hình cần được rà soát.
Tầng thứ ba là kiểm chứng ở cấp doanh nghiệp. Khi hai tầng đầu cho thấy mức độ rủi ro cần quan tâm, doanh nghiệp liên quan cần rà soát nguồn nguyên liệu, nhà cung cấp, lịch sử đầu tư, máy móc, công suất, định mức, chi phí chế biến, giá trị tạo thêm, khách hàng và dữ liệu truy xuất. Tầng này chuyển từ dữ liệu thương mại tổng hợp sang bằng chứng vi mô của doanh nghiệp.
Để mô hình vận hành, ba nhóm chủ thể (Doanh nghiệp - Hiệp hội - Cơ quan nhà nước) phải được kết nối. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm xây dựng dữ liệu, truy xuất và năng lực chứng minh. Hiệp hội ngành thép có vai trò tổng hợp thông tin, cảnh báo, điều phối kỹ thuật và thúc đẩy chuẩn hóa hồ sơ trong chuỗi. Cơ quan nhà nước đảm nhiệm cảnh báo sớm, cung cấp thông tin, phối hợp liên cơ quan và hỗ trợ doanh nghiệp khi vụ việc phát sinh.
Kinh nghiệm quốc tế trong ứng phó PVTM cũng đều cho thấy sự hội tụ ba trụ cột: doanh nghiệp có dữ liệu minh bạch và nhân sự chuyên trách; hiệp hội có khả năng cảnh báo, điều phối kỹ thuật và chia sẻ bài học; cơ quan nhà nước có hệ thống cảnh báo sớm, hỗ trợ pháp lý và kết nối thông tin liên cơ quan.
Đối với Việt Nam, hướng phát triển phù hợp là hình thành cơ chế chia sẻ tín hiệu thường xuyên giữa Cục Phòng vệ thương mại, cơ quan hải quan, cơ quan cấp C/O, hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, Hiệp hội Thép Việt Nam và doanh nghiệp. Thay vì chỉ phối hợp khi vụ việc đã được khởi xướng, mạng lưới này cần có khả năng nhận diện biện pháp gốc, khoanh vùng chuỗi sản phẩm liên quan và đưa tín hiệu tới doanh nghiệp sớm hơn.
Điều đó cho thấy thông tin cảnh báo chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển thành hành động cụ thể ở cấp doanh nghiệp: sản phẩm nào cần kiểm tra, nguyên liệu nào cần truy xuất, thị trường nào cần giám sát và bộ hồ sơ nào cần chuẩn bị.
Do đó, mục tiêu cuối cùng của mô hình không chỉ là xây dựng một hệ thống dự báo lẩn tránh, mà là hình thành một cơ chế sàng lọc và chuẩn bị bằng chứng. Khi một biện pháp gốc xuất hiện ở nước ngoài, cơ quan quản lý có thể nhận diện chuỗi có liên hệ với Việt Nam; hiệp hội khoanh vùng doanh nghiệp và sản phẩm liên quan; còn doanh nghiệp chủ động kiểm tra nguyên liệu và dữ liệu sản xuất. Rủi ro nhờ đó được quản trị trước khi chuyển thành một cuộc điều tra chính thức.
8. Kết luận và hàm ý
Sự phát triển nhanh của ngành thép Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã làm thay đổi đáng kể vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị thép khu vực và thế giới. Năng lực sản xuất gia tăng, chuỗi sản phẩm được mở rộng từ nguyên liệu và bán thành phẩm tới nhiều sản phẩm hạ nguồn, đồng thời doanh nghiệp tiếp cận ngày càng sâu các thị trường lớn.
Trong bối cảnh này, chống lẩn tránh đặt ra một thách thức khác với cách tiếp cận PVTM truyền thống. Rủi ro không nhất thiết bắt đầu từ thành phẩm xuất khẩu của Việt Nam mà có thể bắt đầu từ một biện pháp áp dụng đối với nguyên liệu hoặc sản phẩm thượng nguồn của nước thứ ba. Khi nguyên liệu đó đi vào Việt Nam, được tiếp tục chế biến và sản phẩm hạ nguồn được xuất khẩu sang thị trường áp dụng biện pháp, toàn bộ chuỗi nguyên liệu - sản xuất - xuất khẩu có thể trở thành đối tượng xem xét.
Phân tích các vụ việc cho thấy nguồn nguyên liệu là một mắt xích quan trọng nhưng không phải biến số duy nhất. Tùy theo pháp luật và hồ sơ của từng cuộc điều tra, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét mức độ đầu tư, bản chất quá trình sản xuất, cơ sở vật chất, giá trị của hoạt động chế biến và mô hình thương mại. Thực tiễn Hoa Kỳ đối với CORE cũng cho thấy kết quả có thể khác nhau giữa các nước dù cùng tồn tại hoạt động hoàn thiện sản phẩm từ các cấu phần từ nước ngoài. Vì vậy, nhập khẩu nguyên liệu từ nước chịu biện pháp, xuất hiện FDI hoặc tăng xuất khẩu chỉ nên được xem là tín hiệu sàng lọc, không phải là cáo buộc của hành vi lẩn tránh.
Từ góc độ doanh nghiệp, sự chuyển đổi quan trọng nhất là từ “chứng minh xuất xứ khi được yêu cầu” sang “duy trì khả năng tái dựng chuỗi sản xuất bất kỳ lúc nào”. Điều đó đòi hỏi kết nối dữ liệu từ nhà sản xuất nguyên liệu, nhà cung cấp, MTC/C/O, lô hàng, kho, lệnh sản xuất, định mức, thành phẩm, khách hàng đến chứng từ xuất khẩu. Trên nền tảng đó, ba lớp năng lực gồm chứng minh nguồn nguyên liệu - chứng minh quá trình sản xuất - chứng minh cơ sở kinh tế thực chất có thể trở thành khung quản trị rủi ro của doanh nghiệp thép.
Ở cấp độ ngành, sự thay đổi tương ứng là chuyển từ giám sát từng mặt hàng sang giám sát quan hệ giữa biện pháp PVTM và chuỗi giá trị. Hệ thống cảnh báo cần có khả năng kết nối bốn lớp thông tin: biện pháp PVTM nước ngoài - dòng nguyên liệu vào Việt Nam - hoạt động sản xuất trong nước - xuất khẩu sản phẩm hạ nguồn. Khi xuất hiện tín hiệu đáng chú ý, doanh nghiệp mới chuyển sang tầng kiểm chứng bằng dữ liệu vi mô. Cách tổ chức này vừa tăng khả năng phòng ngừa, vừa hạn chế nguy cơ suy diễn từ những biến động thương mại thông thường.
Nhìn rộng hơn, chống lẩn tránh đang đặt ra yêu cầu thay đổi cách hiểu về năng lực cạnh tranh của ngành thép. Trong các thị trường xuất khẩu có cường độ PVTM cao, năng lực cạnh tranh không chỉ được quyết định bởi giá thành, quy mô, công nghệ và chất lượng sản phẩm mà còn bởi khả năng chứng minh tính minh bạch và thực chất của chuỗi sản xuất. Một doanh nghiệp có thể sản xuất hiệu quả nhưng vẫn chịu rủi ro lớn nếu không thể truy xuất nguyên liệu; ngược lại, một chuỗi cung ứng có dữ liệu minh bạch và khả năng chứng minh cao sẽ tạo ra dư địa tốt hơn để doanh nghiệp bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình khi bị điều tra.
Vì vậy, kiểm soát nguồn nguyên liệu không nên được hiểu theo hướng thu hẹp quyền lựa chọn nguồn cung hay hạn chế hoạt động thương mại hợp pháp. Giá trị của nó nằm ở việc giúp doanh nghiệp biết mình đang sử dụng nguyên liệu gì, từ đâu, cho sản phẩm nào, tại thị trường nào và có thể chứng minh toàn bộ quá trình đó bằng dữ liệu hay không.
Theo cách tiếp cận này, quản trị chống lẩn tránh không bắt đầu khi doanh nghiệp nhận được bảng câu hỏi điều tra. Nó bắt đầu từ quyết định lựa chọn nhà cung cấp, thiết kế hệ thống dữ liệu, tổ chức sản xuất và lựa chọn thị trường xuất khẩu. Đây chính là bước chuyển từ ứng phó vụ việc sang quản trị rủi ro PVTM theo chuỗi giá trị, đồng thời là điều kiện quan trọng để ngành thép Việt Nam duy trì khả năng tiếp cận bền vững các thị trường xuất khẩu trong bối cảnh các công cụ PVTM ngày càng gắn chặt với cấu trúc và sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu./.
Ngày đăng: